The Guests (Những vị khách) – Saki

Saki là bút danh của Hector Hugh Munro (1870–1916), một nhà văn viết truyện ngắn và tiểu luận trào phúng nổi tiếng người Anh. Ông sinh ra ở Miến Điện (nay là Myanmar) trong một gia đình người Anh làm việc tại thuộc địa, sau đó được gửi về Anh học tập.

Phong cách của Saki được biết đến với sự hóm hỉnh sắc sảo, lạnh lùng, mỉa mai tàn nhẫn, thường khắc họa sự giả dối, câu nệ lễ nghi và ngu ngốc của tầng lớp thượng lưu, quý tộc, chính trị gia và giáo sĩ Anh thời kỳ Edward (1901–1910). Nhiều truyện của ông có yếu tố kỳ ảo nhẹ, bạo lực tiềm ẩn hoặc kết thúc bất ngờ, đen tối – một chất hài hước rất riêng, thường được gọi là dark wit hay black comedy.

Các truyện ngắn nổi tiếng của ông bao gồm: The Open Window, Sredni Vashtar, The Interlopers, Tobermory, Laura, và The Guests (truyện vừa phân tích). Ông cũng viết hai tiểu thuyết và nhiều ký sự chính trị.

Sau đây là truyện ngắn The Guest.

Những vị khách

Tác giả: H.H. Munro (SAKI)

“Phong cảnh nhìn từ cửa sổ nhà chúng ta quả thực rất duyên dáng,” Annabel nói; “những vườn anh đào và đồng cỏ xanh mướt kia, dòng sông uốn lượn dọc thung lũng, và ngọn tháp chuông nhà thờ lấp ló giữa những cây du, tất cả tạo nên bức tranh tuyệt vời. Nhưng mà, có điều gì đó thật buồn tẻ và uể oải; sự trì trệ dường như là nốt nhạc chủ đạo. Chẳng có gì xảy ra ở đây cả; mùa gieo hạt rồi mùa gặt, thỉnh thoảng có dịch sởi bùng phát hoặc một cơn giông bão nhẹ, và một chút sôi nổi bầu cử khoảng năm năm một lần, đó là tất cả những gì có thể thay đổi mạch đơn điệu trong cuộc sống của chúng ta. Khá là đáng sợ nhỉ?”

“Ngược lại,” Matilda nói, “tôi thấy cuộc sống êm dịu và thư thái; nhưng cô biết đấy, tôi đã sống ở những xứ sở nơi mà mọi chuyện cứ xảy ra dồn dập, nhiều chuyện đến cùng một lúc, khiến người ta chẳng kịp sẵn sàng.”

“Như thế, dĩ nhiên, rất là khác biệt,” Annabel đáp.

“Tôi chưa bao giờ quên,” Matilda kể, “lần Giám mục Bequar bất ngờ đến thăm chúng tôi; ngài đang trên đường đi đặt viên đá nền cho một cơ sở truyền giáo hay công trình đại loại thế.”

“Tôi tưởng ở đó người ta luôn chuẩn bị sẵn sàng cho những vị khách bất ngờ xuất hiện chứ,” Annabel nói.

“Tôi đã chuẩn bị tinh thần gặp gỡ khoảng nửa tá Giám mục,” Matilda tiếp lời, “nhưng thật bực mình, sau một hồi trò chuyện, tôi phát hiện ra vị này lại là một người họ hàng xa của tôi, thuộc nhánh gia đình đã từng tranh chấp gay gắt và xúc phạm nhánh gia đình chúng tôi vì một bộ đồ tráng miệng bằng sứ Crown Derby; họ đoạt được bộ đồ ấy, mà đáng lẽ chúng tôi được thừa kế nó, hoặc ngược lại, chúng tôi lấy được bộ đồ sứ và họ nghĩ rằng họ mới xứng đáng có được, tôi không nhớ rõ nữa; dù sao thì, tôi biết họ đã cư xử rất đáng xấu hổ. Giờ đây, một người trong số họ lại xuất hiện với vẻ ngoài thánh thiện, có thể nói vậy, và đòi hỏi truyền thống hiếu khách của phương Đông.”

“Quả là khó chịu, nhưng cô có thể để chồng lo phần lớn việc tiếp đón mà.”

“Chồng tôi đang ở xa xôi cách năm mươi dặm, nói những điều hợp lý, hoặc những điều ông ấy cho là hợp lý, với một cộng đồng làng quê đang tưởng rằng một trong những người đứng đầu của họ là người hổ.”

“Người hổ là gì cơ?”

“Một người hổ; chắc cô đã nghe nói đến người sói rồi phải không, dạng như kết hợp giữa sói, người và quỷ dữ ấy? Ở những vùng đó, họ có người hổ, hoặc họ nghĩ là có, và tôi phải nói rằng trong trường hợp này, theo những bằng chứng được tuyên thệ và không thể phản bác, họ có mọi lý do để tin như vậy. Tuy nhiên, vì chúng ta đã từ bỏ việc truy tố tòa thuật từ khoảng ba trăm năm trước, chúng ta không muốn người khác tiếp tục những hủ tục đã bị loại bỏ; như thế dường như không tôn trọng lập trường tinh thần và đạo đức của chúng ta chút nào.”

“Tôi hy vọng cô không cư xử tệ với ông Giám mục,” Annabel nói.

“Ồ, dĩ nhiên ông ta là khách của tôi, nên tôi phải tỏ ra lịch sự, nhưng ông ta lại thiếu tế nhị đến mức khơi lại chuyện cãi vã xưa cũ, rồi cố gắng biện minh cách cư xử của nhánh gia đình ông ta cũng có cái lý của nó; dù có thật vậy đi chăng nữa, mà tôi không hề thừa nhận dù chỉ một khoảnh khắc, thì nhà tôi cũng chẳng phải nơi để nói những chuyện này. Tôi không tranh luận, nhưng tôi cho đầu bếp của mình nghỉ phép về thăm cha mẹ già cách đó khoảng chín mươi dặm. Người đầu bếp dự bị không chuyên về cà ri, thực ra, tôi thậm chí nghĩ là nấu nướng, dù dưới bất kỳ hình thức nào, cũng đều không phải thế mạnh của anh ta. Tôi tin rằng ban đầu anh ta đến với chúng tôi với tư cách người làm vườn, nhưng vì chúng tôi chưa bao giờ tự nhận là có vườn nên anh ta được sử dụng làm người phụ chăn dê, và theo tôi hiểu, trong vai trò đó, anh ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Khi Giám mục nghe tin tôi đã cho đầu bếp được nghỉ phép đặc biệt và không cần thiết, ông ta ngầm hiểu ra ý đồ của thủ đoạn này, và từ lúc ấy chúng tôi hầu như không nói chuyện với nhau nữa. Nếu cố từng có một vị Giám mục không thèm nói chuyện cùng đang ở lại nhà mình, cô sẽ hiểu được tình thế ấy.”

Annabel thú nhận cuộc đời mình chưa từng có trải nghiệm nào đáng ngại đến vậy.

“Rồi,” Matilda tiếp tục, “để cho mọi việc thêm rối, sông Gwadlipichee tràn bờ, hiện tượng thường xảy ra mỗi khi mưa kéo dài bất thường, và phần dưới của ngôi nhà cùng tất cả công trình phụ đều bị ngập. Chúng tôi kịp thả ngựa ra, còn người đánh xe ngựa dẫn cả đàn bơi đến vùng đất cao gần nhất. Một hoặc hai con dê, người chăn dê chính, vợ của người chăn dê chính, và mấy đứa con họ trú ẩn trong hiên nhà. Toàn bộ khoảng trống còn lại đều chật kín những con gà mái và gà con ướt sũng, lem nhem tả tơi; người ta không bao giờ thực sự biết mình có bao nhiêu gia cầm cho đến khi khu nhà ở của đầy tớ bị ngập. Dĩ nhiên, tôi từng trải qua những chuyện tương tự trong những trận lũ trước đây, nhưng chưa bao giờ tôi có cả một căn nhà đầy dê, trẻ con và gà mái gần chết đuối, lại còn thêm một vị Giám mục mà tôi hầu như không nói chuyện cùng.”

“Chắc hẳn ấy là trải nghiệm không dễ chịu,” Annabel nhận xét.

“Còn nhiều chuyện khó xử hơn nữa xảy ra sau đó. Tôi không định để một trận lụt tầm thường xóa nhòa ký ức về bộ đồ ăn tráng miệng Crown Derby đó, và tôi thông báo với Giám mục rằng phòng ngủ rộng lớn của ông ta, với một chiếc bàn viết, phòng tắm nhỏ, đầy đủ các bình nước lạnh, là phần của ông trong khuôn viên nhà, và rằng không gian đó khá chật chội trong hoàn cảnh hiện tại. Tuy nhiên, vào khoảng ba giờ chiều, khi ông ta tỉnh dậy sau giấc ngủ trưa, ông ta bất ngờ bước vào căn phòng thường được dùng làm phòng khách, nhưng giờ đang kiêm luôn phòng ăn, kho chứa đồ, phòng để yên ngựa, và nửa tá công năng tạm thời khác nữa. Nhìn vào tình trạng trang phục của vị khách nhà tôi, ông ta dường như nghĩ rằng căn phòng đó cũng có thể dùng làm phòng thay đồ của mình.”

“Tôi e rằng không có chỗ nào cho ông ngồi cả,” tôi lạnh lùng nói; “hiên nhà đầy dê rồi.”

“‘Có một con dê trong phòng ngủ của tôi,’ ông ta xét nét với giọng điệu lạnh lùng không kém, pha chút mỉa mai.”

“‘Thực sao,’ tôi nói, ‘lại thêm một con sống sót nữa à? Tôi tưởng tất cả lũ con dê khác đều chết hết rồi.'”

“‘Con dê này coi như xong đời rồi,’ ông ta nói, ‘nó đang bị một con báo ăn thịt ngay lúc này. Đó là lý do tại sao tôi rời khỏi phòng; một số loài động vật không thích bị theo dõi khi chúng đang ăn.'”

“Con báo, dĩ nhiên, rất dễ giải thích; nó đã lảng vảng quanh chuồng dê khi trận lũ ập đến, và đã trèo lên bằng cầu thang bên ngoài dẫn đến phòng tắm của Giám mục, chu đáo vác theo một con dê. Chắc nó thấy phòng tắm ẩm ướt và bí bách quá, nên nó chuyển hoạt động ăn uống của mình sang phòng ngủ trong khi Giám mục đang ngủ trưa.”

“Thật là tình huống khủng khiếp!” Annabel thốt lên; “tưởng tượng có một con báo hung tợn trong nhà, lại còn bị nước ngập bao quanh.”

“Hoàn toàn không hề hung tợn chút nào,” Matilda nói; “nó đã no nê thịt dê, có đủ nước uống nếu thấy khát, và có lẽ chẳng còn mong muốn nào cấp thiết hơn ngoài việc đánh một giấc ngon lành. Dù vậy, tôi nghĩ ai cũng sẽ phải thừa nhận đó quả là tình huống khó xử khi phòng khách duy nhất lại bị một con báo chiếm dụng, hiên nhà chật cứng dê, trẻ con và gà mái ướt, và một vị Giám mục mà bạn chẳng thèm nói chuyện lại đang chôn chân ở ngay trong phòng khách. Tôi thực sự không biết mình đã vượt qua những giờ phút khó nhọc đó như thế nào, và tất nhiên giờ ăn chỉ làm tình hình càng tồi tệ hơn. Anh đầu bếp dự phòng có đủ lý do để đưa lên món súp lỏng nhách và cơm nhão nhoẹt, và vì cả người chăn dê chính lẫn vợ ông ta đều không phải thợ lặn lành nghề, nên không thể xuống hầm lấy rượu. May mắn thay, sông Gwadlipichee rút nước nhanh chóng như khi nó dâng nước lên, và ngay trước bình minh, anh đánh xe ngựa đã bì bõm quay lại, với lũ ngựa chỉ còn ngập đến khuỷu chân. Rồi còn nảy sinh một chút rắc rối vì vị Giám mục muốn rời đi sớm hơn con báo, và vì con báo đang cố thủ giữa đống đồ đạc cá nhân của ông ta, nên rõ ràng khó mà thay đổi thứ tự khởi hành. Tôi chỉ ra cho đức Giám mục rằng thói quen và sở thích của báo không giống như loài rái cá, và tự nhiên nó thích đi bộ hơn là lội nước; và dù sao thì một bữa ăn no nể nguyên một con dê, uống kèm nước lã, cũng xứng đáng được nghỉ ngơi; nếu tôi nổ súng để con vật sợ mà bỏ đi, như Đức Giám mục đề nghị, thì có lẽ nó chỉ rời khỏi phòng ngủ để vào phòng khách vốn đã chật chội. Tóm lại, thật là nhẹ nhõm khi cả hai đều rời đi. Giờ thì có lẽ cô có thể hiểu được sự trân trọng của tôi đối với một vùng quê yên bình, nơi không có chuyện gì xảy ra.”

Ủng hộ súp thưởng cho mèo đen ở đây

Bấm vào link shopee ủng hộ mình nha :-3

Leave a comment