🧠 Khi thể xác ngủ yên, tâm trí thức tỉnh – nhưng nó sẽ đi về đâu?
🔭 H.G. Wells, một trong những người tiên phong của khoa học viễn tưởng, đã viết Under the Knife như một cuộc thám hiểm vào vùng đất chưa được biết đến: ý thức của con người khi bị tách khỏi thể xác.
⚕️ Truyện kể về một khoảnh khắc duy nhất – một ca phẫu thuật dưới tác dụng của thuốc mê – nhưng trong khoảnh khắc đó, Wells mở ra một không gian rộng lớn đến kinh ngạc. Đó là một cuộc phiêu lưu không cần không gian vật lý, một hành trình không cần thời gian, một cuộc đối thoại giữa một cá nhân và vũ trụ bao la.
⚠️ Nhưng hãy cẩn thận: Under the Knife không đưa ra câu trả lời dễ dàng. Nó đặt bạn vào giữa một trải nghiệm mơ hồ giữa mơ và thực, giữa sự giải thoát và nỗi kinh hoàng, giữa niềm tin vào sự bất tử và nỗi sợ hãi trước hư vô.
❓ Liệu những gì nhân vật chính nhìn thấy là một linh ảnh siêu nhiên hay chỉ là sản phẩm của một bộ não đang hấp hối? Wells khéo léo để người đọc tự đối diện với câu hỏi ấy.
📖 Under the Knife là một tác phẩm ngắn nhưng mang sức nặng của những suy tư triết học, một viên ngọc nhỏ trong văn nghiệp của Wells, và một trải nghiệm đáng nhớ cho bất kỳ ai từng tự hỏi: điều gì xảy ra khi tôi không còn là tôi?
Dưới lưỡi dao phẫu thuật
H. G. Wells
“Nhỡ mình không qua khỏi thì sao?” Ý nghĩ ấy cứ quẩn quanh mãi trong đầu tôi trên đường đi bộ về từ nhà Haddon. Đó là một câu hỏi hoàn toàn cá nhân riêng tư. Tôi không mang nỗi ưu tư sâu thẳm của một người đàn ông có gia đình, và tôi biết rằng trong số những người bạn tri kỷ, chẳng mấy ai thực sự bận tâm đến cái chết của tôi, ngoại trừ cái nghĩa vụ phải tiếc thương mà thôi. Tôi thực sự ngạc nhiên, và có lẽ hơi tủi hổ, khi ngẫm nghĩ vấn đề này rồi nhận ra chẳng mấy người vượt qua được cái nghi thức thông thường ấy. Trên suốt quãng đường đi bộ từ nhà Haddon qua đồi Primrose, vạn vật hiện ra trước mắt tôi, trần trụi, tước bỏ mọi hào quang, dưới thứ ánh sáng khô cằn và tỉnh táo. Kia là những người bạn thuở niên thiếu của tôi: giờ đây tôi nhận ra tình cảm của chúng tôi chỉ là một truyền thống, một thứ chúng tôi nỗ lực tụ họp để duy trì. Kia là những đối thủ và cộng sự trong sự nghiệp của tôi sau này: tôi cho rằng mình đã quá lãnh đạm hoặc kín tiếng – có lẽ cả hai điều ấy gắn liền với nhau. Có lẽ ngay cả năng lực kết bạn cũng là một vấn đề thuộc về thể chất.
Đã có lúc trong đời tôi đau buồn khôn xiết khi mất đi một người bạn; nhưng buổi chiều hôm ấy, khía bước về nhà, cảm xúc trong trí tưởng tượng của tôi lại ngủ yên. Tôi không thể thương xót chính mình, cũng không thể cảm thấy thương tiếc cho bạn bè, và cũng không thể hình dung họ đau buồn vì tôi.
Tôi bỗng thấy cái sự chai sạn xúc này của mình thật thú vị – chắc chắn đây là hệ quả của cơ thể đang đình trệ; và dòng suy nghĩ của tôi cứ rong ruổi theo lối đó. Tôi nhớ hồi còn trẻ, tôi từng bị mất máu đột ngột và suýt chết. Giờ nhớ lại, khi ấy cả tình yêu lẫn đam mê của tôi đều cạn kiệt, chỉ còn lại sự buông xuôi cam chịu bình thản, một chút tự thương hại nhàn nhạt. Nhiều tuần trôi qua, những hoài bão cũ, những dịu dàng xưa, và cái bản giao hưởng đạo đức phức tạp của một người đàn ông mới chịu trỗi dậy trở lại. Tôi chợt nhận ra, ý nghĩa thực sự của trạng thái tê liệt này có thể là con đường dần dần rời xa sự dẫn dắt của khoái lạc và đau khổ – thứ chi phối con người nguyên thủy. Tôi cho rằng, trong thế giới này, điều đã được chứng minh một cách triệt để nhất có thể, chính là những cảm xúc cao cả, những tình cảm đạo đức, thậm chí cả lòng vị tha tinh tế của tình yêu, đều bắt nguồn từ những ham muốn và nỗi sợ hãi nguyên thủy của loài vật đơn giản: chúng là cái khung để tự do tinh thần của con người dựa vào. Và có lẽ khi cái chết bao trùm lấy chúng ta, khi khả năng hành động của chúng ta thu hẹp lại, thì cái cấu trúc cân bằng đầy phức tạp ấy – gồm những xung động, khuynh hướng và ác cảm – vốn là những động lực phía sau mọi hành vi của ta, cũng sẽ biến mất theo.
Còn sót lại gì sau đó?
Tôi bỗng giật mình quay về hiện thực do suýt đâm sầm vào cái khay của thằng bé bán thịt. Hóa ra tôi đang băng qua cây cầu bắc ngang kênh đào Công viên Regent, chạy song song với cái kênh trong Vườn thú. Thằng bé áo xanh ngoái đầu nhìn về phía chiếc sà lan đen chậm rãi tiến tới, đang được con ngựa trắng gầy gò kéo đi. Trong Vườn thú, một bảo mẫu đang dẫn ba đứa trẻ nhỏ vui vẻ băng qua cầu. Cây cối xanh tươi; niềm hy vọng mùa xuân vẫn chưa bị phủ bụi hè; bầu trời phản chiếu trên mặt nước trong vắt, nhưng bị xét thành những con sóng dài và những dải đen rung rinh, khi chiếc sà lan lướt qua. Gió khẽ thổi qua; nhưng không làm tôi xao động như gió xuân ngày nào.
Cái sự tê dại cảm xúc này chẳng lẽ chính là một điềm báo? Thật kỳ lạ, tôi vẫn có thể suy luận và liên kết rành rọt các liên tưởng như mọi khi – ít nhất, đó là cảm giác của tôi. Cái đang đến với tôi là sự bình tĩnh hơn là tê liệt. Liệu có lý do nào cho sự nhẹ nhõm trong linh cảm về cái chết không? Liệu một người sắp đến bên bờ sinh tử có bắt đầu rút lui theo bản năng khỏi những ràng buộc của vật chất và giác quan, ngay cả trước khi bàn tay lạnh lẽo của tử thần chạm vào? Tôi thấy mình lẻ loi đến lạ lòng – lẻ loi mà chẳng hề tiếc nuối – xa rời cuộc sống và tồn tại quanh mình. Những đứa trẻ nô đùa dưới ánh mặt trời, tích lũy sức mạnh và kinh nghiệm cho cuộc đời, người giữ vườn tán gẫu với người giữ trẻ, người mẹ đang cho con bú, cặp đôi trẻ mê mẩn nhìn nhau khi họ lướt ngang qua tôi, cây bên đường xòe những chiếc lá non van xin ánh nắng, những lay động trên cành cây –tôi từng là một phần của tất cả, nhưng giờ tôi gần như đã đoạn tuyệt.
Đi xuống Broad Walk, tôi thấy mình rã rời và chân nặng trĩu. Chiều hôm đó trời nóng, tôi rẽ vào ngồi xuống một chiếc ghế xanh lá bên đường. Chỉ trong chớp mắt, tôi chìm vào cơn mơ, và dòng suy nghĩ đẩy lên thành hình ảnh về sự phục sinh. Tôi vẫn ngồi trên ghế, nhưng tôi tưởng mình thực sự đã chết, héo mòn, tả tơi, một mắt (tôi thấy) bị chim mổ. “Tỉnh dậy!” một giọng nói vang lên; và lâp tức bụi trên đường cùng lớp đất dưới cỏ bỗng nổi dậy không kiểm soát. Trước đây tôi chưa từng nghĩ Công viên Regent là nghĩa địa, nhưng giờ đây, xuyên qua những tán cây, trải dài đến tận chân trời, tôi nhìn thấy một vùng đồng bằng bằng phẳng với những ngôi mộ đang vặn vẹo và bia mộ nghiêng ngả.
Dường như có chuyện gì đó không ổn: những kẻ sống dậy như bị nghẹt thở khi họ vùng vẫy trồi lên, máu chảy lênh láng trong cơn giãy giụa, lớp da thịt đỏ bị xé toạc khỏi xương trắng. “Tỉnh dậy!” tiếng gọi vang lên; nhưng tôi quyết tâm không đứng dậy trước cảnh tượng kinh hoàng đó. “Tỉnh dậy!” Họ không để tôi yên. “Tỉnh dậy đi!” một giọng nói giận dữ vang lên. Một thiên thần nói giọng Cockney! Chính là người bán vé đang lay tôi dậy, đòi tiền xu của tôi.
Tôi trả đồng xu tiền vé, bỏ vé vào túi, ngáp một cái, duỗi chân, và cảm thấy đỡ uể oải hơn một chút, đứng dậy đi tiếp về phía Langham Place. Tôi nhanh chóng lại lạc vào mê cung suy nghĩ về cái chết. Băng qua phố Marylebone vào con đường hình bán nguyệt ở cuối Langham Place, tôi suýt bị bánh xe cán trúng, và đi tiếp với trái tim đập thình thịch và bả vai bầm tím. Tôi chợt nghĩ sẽ thật buồn cười nếu những suy tư về cái chết của bản thân vào ngày mai lại dẫn đến cái chết của tôi ngay hôm nay.
Nhưng tôi sẽ không làm bạn phát chán với những trải nghiệm của ngày hôm đó và ngày hôm sau nữa. Tôi ngày càng chắc chắn hơn mình sẽ chết trong ca phẫu thuật; đôi lúc tôi nghĩ mình đã tự nói với bản thân như vậy. Về nhà, mọi thứ đã chuẩn bị sẵn sàng; phòng tôi dọn sạch những đồ đạc không cần thiết và trải ga trắng; một y tá đã có mặt và đang cãi nhau với bà quản gia. Họ muốn tôi đi ngủ sớm, và sau một chút phản kháng, tôi đành nghe theo.
Sáng hôm sau, tôi uể oải vô cùng, mặc dù tôi đọc báo và những lá thư gửi đến bằng đường bưu điện sớm nhất, tôi chẳng thấy gì thú vị. Có một bức thư thân mật từ Addison, người bạn học cũ, chỉ ra hai điểm không nhất quán và một lỗi in ấn trong cuốn sách mới của tôi, cùng một bức thư khác từ Langridge bày tỏ cơn bực dọc về Minton. Số còn lại toàn chuyện công việc. Tôi ăn sáng trên giường. Cơn đau nhói bên sườn dường như dữ dội hơn. Tôi biết đó là đau, nhưng nếu bạn hiểu ý tôi, tôi lại thấy chẳng đau lắm. Đêm qua tôi thức giấc, nóng bức và khát nước, nhưng đến sáng giường lại thấy êm ái thoải mái. Ban đêm tôi nằm suy nghĩ về những chuyện đã qua; sáng tôi ngủ gật với câu hỏi về sự bất tử. Haddon đến đúng giờ, với một chiếc cặp đen gọn gàng; Mowbray cũng đến ngay sau đó. Sự xuất hiện của họ khiến tôi tỉnh táo hơn chút. Tôi bắt đầu quan tâm hơn đến diễn biến sự việc. Haddon đẩy chiếc bàn bát giác nhỏ lại gần giường, quay lưng về phía tôi và bắt đầu lấy đồ ra khỏi cặp. Tôi nghe thấy tiếng kim loại va lách cách nhè nhẹ. Tôi nhận ra trí tưởng tượng của mình không hoàn toàn trì trệ. “Liệu ông có làm tôi đau nhiều không?” tôi hỏi với giọng hờ hững.
“Không hề,” Haddon quay đầu đáp lời qua vai. “Chúng tôi sẽ dùng chloroform để gây mê anh. Tim anh vẫn khỏe mạnh.” Và vừa nghe lời ông ấy nói, tôi ngửi thấy mùi ngọt gắt của thuốc gây mê.
Họ duỗi thẳng tôi ra, để lộ phần hông cho tiện, và gần như trước khi tôi kịp hiểu chuyện gì, thuốc mê chloroform đã được đưa vào. Nó xộc lên cay mũi, ban đầu có cảm giác ngạt thở. Tôi biết mình sẽ chết – rằng đây là dấu chấm hết đối với ý thức của tôi. Và đột nhiên tôi cảm thấy mình chưa sẵn sàng cho cái chết: Tôi có linh cảm mơ hồ về một bổn phận nào đó bị bỏ quên – tôi chẳng biết đó là gì. Có điều gì tôi chưa làm? Tôi không nghĩ ra được điều gì cần làm, chẳng có gì đáng mong đợi trong đời; ấy vậy mà tôi lại có sự khước từ kỳ lạ nhất đối với cái chết. Cảm giác trên thể xác thật nặng nề và khó chịu. Tất nhiên các bác sĩ không biết rằng họ sắp giết tôi. Có lẽ tôi đã giãy giụa. Rồi tôi ngã xuống bất động, một sự tĩnh mịch khủng khiếp, một sự im lặng quái dị, và một bóng tối không thể xuyên thấu bao trùm lấy tôi.
Chắc hẳn đã có khoảng thời gian tôi bất tỉnh tuyệt đối, vài giây hoặc vài phút. Rồi với một sự tỉnh táo lạnh lùng, không chút cảm xúc, tôi nhận ra mình vẫn chưa chết. Tôi vẫn còn trong thể xác mình; nhưng tất cả những cảm giác hỗn độn tràn ngập từ mọi phía, thứ tạo nên nền tảng của ý thức đã biến mất, để lại tôi thoát khỏi tất cả. Không, chưa thoát hẳn khỏi hết thảy mọi điều; vì vẫn còn thứ gì đó níu giữ tôi với thân xác trần trụi tội nghiệp trên giường—níu giữ tôi, nhưng không chặt đến nỗi tôi không cảm thấy mình ở bên ngoài nó, tách biệt với nó, đang vùng vẫy thoát ra khỏi nó. Tôi không nghĩ mình đã nhìn thấy, không nghĩ mình đã nghe thấy; nhưng tôi cảm nhận được mọi điều đang diễn ra, dường như tôi vừa thấy vừa nghe. Haddon đang cúi xuống bên cạnh tôi, Mowbray ở phía sau tôi; con dao mổ—một con dao thật lớn—đang cắt da thịt tôi ở bên hông, dưới các xương sườn. Thật thú vị khi thấy mình bị cắt như pho mát, không đau, không nao núng. Cảm giác thú vị ấy cũng như khi xem một ván cờ giữa những người xa lạ. Khuôn mặt Haddon đăm chiêu và tay ông ấy vững vàng; nhưng tôi ngạc nhiên nhận thấy (không hiểu vì sao) ông ấy đang cảm thấy vô cùng nghi ngờ về độ sáng suốt của bản thân mình trong suốt ca mổ.
Tôi cũng thấy được suy nghĩ của Mowbray. Ông ta đang nghĩ phong thái của Haddon thể hiện quá nhiều tính chuyên môn. Những ý nghĩ mới nổi lên như những bong bóng trong dòng suy tư sủi bọt, rồi vỡ tan từng cái một trong điểm sáng nhỏ bé của ý thức ông ta. Ông ta không thể không nhận thấy và ngưỡng mộ sự khéo léo nhanh nhẹn của Haddon, bất chấp tính đố kỵ và khuynh hướng hay chê bai người khác. Tôi thấy gan mình lộ ra. Tôi bối rối với tình trạng của bản thân. Tôi không cảm thấy mình đã chết, nhưng tôi khác biệt theo cách nào đó so với người sống. Nỗi trầm uất u ám từng đè nặng lên tôi hơn một năm qua, nhuộm màu mọi suy nghĩ của tôi, giờ biến mất. Tôi cảm nhận và suy nghĩ không hề nhuốm một chút màu sắc cảm xúc nào. Tôi tự hỏi liệu có phải ai cũng cảm nhận như thế này khi bị gây mê bằng chloroform, và lại quên mất khi tỉnh dậy. Nhìn vào tâm trí người khác rồi không quên thì thật bất tiện.
Mặc dù tôi không nghĩ mình đã chết, nhưng tôi vẫn cảm nhận rõ mình sắp chết. Điều này khiến tôi quay lại quan sát hành động của Haddon. Tôi nhìn vào tâm trí ông ấy, thấy ông đang sợ cắt nhầm một nhánh tĩnh mạch cửa. Tôi bị phân tâm không còn chú ý đến tiểu tiết bởi những chuyển biến kỳ lạ đang diễn ra trong tâm trí ông ấy. Ý thức của Haddon giống như đốm sáng nhỏ run rẩy phản chiếu từ chiếc gương của một điện kế. Suy nghĩ của ông ấy chảy bên dưới nó như một dòng suối, một số sáng rõ khi đi qua tiêu điểm, một số mờ ảo trong ánh sáng lờ mờ phía rìa. Vừa rồi, đốm sáng nhỏ ấy vẫn ổn định; nhưng chỉ cần một chuyển động nhỏ nhất của Mowbray, một âm thanh nhẹ nhất từ bên ngoài, thậm chí một sự khác biệt mờ nhạt trong nhịp chuyển động chậm chạp của phần thịt sống mà ông ấy đang cắt, cũng khiến đốm sáng kia rung lên và xoay tít. Một cảm giác mới ùa lên qua dòng suy nghĩ; và kìa! Đốm sáng giật mình lao về phía đó, nhanh hơn cả một con cá hoảng sợ chạy trốn. Thật phi thường khi nghĩ đến mọi chuyển động phức tạp của con người ấy đều phụ thuộc vào đốm sáng monh manh, chập chờn kia; rằng trong năm phút tiếp theo, mạng sống của tôi dựa vào chuyển động của nó. Và ông ấy đang ngày càng trở nên lo lắng hơn trong thao tác. Cứ như thể một hình ảnh nhỏ về một tĩnh mạch bị cắt ngày càng rõ nét hơn, vật lộn cố gắng đẩy ra khỏi não ông ấy một hình ảnh khác về một vết cắt không đạt yêu cầu. Ông đang sợ hãi: nỗi sợ cắt nông đang đánh nhau với nỗi sợ cắt quá sâu.
Rồi đột nhiên, như nước vỡ cửa cống, một cơn hoảng loạn kinh hoàng ập đến khiến mọi suy nghĩ của ông ấy rối bời, và cùng lúc đó tôi nhận ra tĩnh mạch đã bị cắt. Ông ấy giật mình lùi lại với một tiếng kêu khàn khàn, tôi thấy máu nâu tím tụ lại thành giọt nhanh, rồi chảy thành dòng. Ông ấy phát hoảng lên. Haddon ném con dao mổ dính đầy máu lên chiếc bàn hình bát giác; ngay lập tức cả hai bác sĩ lao vào tôi, thực hiện những cố gắng vội vàng và thiếu suy nghĩ nhằm cứu vãn thảm họa. “Đá lạnh!” Mowbray nói, thở hổn hển. Nhưng tôi biết mình đã chết, dù thân xác tôi vẫn còn bám lấy tôi.
Tôi sẽ không miêu tả những nỗ lực cữu chữa muộn màng của họ, mặc dù tôi thấy từng chi tiết. Nhận thức của tôi sắc bén và nhanh nhạy hơn bao giờ hết; suy nghĩ ào ạt trong tâm trí tôi với tốc độ không tưởng, nhưng cực kỳ rõ ràng. Tôi chỉ có thể so sánh sự rõ ràng dồn dập đó với tác dụng của một liều thuốc phiện vừa phải. Chỉ trong chốc lát, tất cả sẽ kết thúc, và tôi sẽ được tự do. Tôi biết mình bất tử, nhưng điều gì sẽ xảy ra thì tôi không biết. Liệu tôi sẽ tan biến ngay lập tức, như một làn khói thuốc súng, trong một dạng thân thể nửa vật chất nào đó, dạng phiên bản suy yếu của xác tôi? Liệu tôi có đột nhiên thấy mình giữa vô số người chết, và nhận ra thế giới xung quanh mình bản chất vẫn luôn chỉ là ảo ảnh? Liệu tôi có trôi đến một buổi gọi hồn, và ở đó thực hiện những nỗ lực ngu xuẩn, khó hiểu để tác động vào một bà đồng mù lòa? Đó là trạng thái tò mò vô cảm, của sự chờ đợi không màu sắc. Rồi tôi nhận ra áp lực gia tăng, cảm giác như thể một nam châm khổng lồ đang kéo tôi ra khỏi cơ thể mình. Sức ép lớn dần. Tôi như một nguyên tử bị những lực lượng quái dị tranh giành. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi kinh hoàng, cảm giác quay trở lại với tôi. Cảm giác rơi tự do từ trên cao xuống, cái cảm giác thường thấy trong những cơn ác mộng, cảm giác ấy được tăng cường gấp ngàn lần, cùng với một nỗi kinh hoàng đen tối, ập đến tâm trí tôi như một dòng thác. Rồi hai bác sĩ, cái xác trần với vết cắt bên hông, căn phòng nhỏ, vụt trôi khỏi tầm mắt tôi và biến mất, như một vết bọt tan biến trong dòng xoáy.