II
Tôi leo lên ba tầng cầu thang ọp ẹp, nơi trước đây tôi vẫn thường leo lên, và gõ vào cánh cửa nhỏ ở cuối hành lang. Ông Wilde mở cửa cho tôi bước vào.
Khi ông ấy khóa cửa hai lần và đẩy một chiếc rương nặng chặn lại, ông ấy đến ngồi xuống cạnh tôi, nhìn thẳng vào mặt tôi với đôi mắt nhỏ sáng màu. Nửa tá vết xước mới phủ đầy mũi và má ông ấy, còn những sợi dây bạc để cố định đôi tai nhân tạo của ông bị lệch. Tôi nghĩ mình chưa bao giờ thấy ông ấy hấp dẫn một cách ghê rợn đến thế. Ông ấy không có tai. Những chiếc tai nhân tạo, giờ đây nhô ra một góc từ sợi dây mảnh, được làm bằng sáp và sơn màu hồng vỏ sò, nhưng phần còn lại của khuôn mặt ông màu vàng. Lẽ ra ông ấy nên vui lòng với sự xa xỉ của một vài ngón tay nhân tạo cho bàn tay trái, vốn hoàn toàn không có ngón, nhưng dường như không gây bất tiện gì cho ông, và ông cũng hài lòng với đôi tai sáp của mình. Ông Wilde rất nhỏ con, chỉ cao hơn đứa trẻ mười tuổi chẳng bao nhiêu, nhưng cánh tay rất phát triển, còn bắp đùi dày như vận động viên. Tuy nhiên, điều đáng chú ý nhất ở ông Wilde là một con người có trí thông minh và kiến thức phi thường như thế lại có một cái đầu như vậy. Nó phẳng và nhọn, giống như đầu của nhiều người bất hạnh bị người ta giam cầm trong các trại tị nạn. Nhiều người gọi ông ấy là kẻ điên, nhưng tôi biết ông ấy cũng tỉnh táo như tôi.
Tôi không phủ nhận ông ấy lập dị; sự cuồng nhiệt khi ông ấy giữ con mèo rồi trêu chọc nó cho đến khi nó lao vào mặt ông như con quỷ, chắc chắn là rất lập dị. Tôi không bao giờ có thể hiểu tại sao ông Wilde lại giữ sinh vật đó, cũng như ông ấy thấy niềm vui gì khi tự nhốt mình trong phòng với con vật hung ác, cáu kỉnh này. Tôi nhớ có lần, ngước lên từ bản thảo tôi đang nghiên cứu dưới ánh sáng của vài ngọn nến mỡ, tôi thấy ông Wilde ngồi xổm bất động trên chiếc ghế cao của mình, đôi mắt sáng rực lên vì phấn khích, trong khi con mèo, đã rời khởi chỗ trước bếp lò, bò qua sàn đến chỗ ông. Trước khi tôi kịp cử động, nó úp bụng xuống đất, thu mình xuống, run rẩy và lao thẳng vào mặt ông Wilde. Gào thét và sùi bọt mép, lăn qua lăn lại trên sàn, cào và cấu, cho đến khi con mèo ré lên và chạy trốn dưới gầm tủ, còn ông Wilde nằm ngửa, tứ chi co rút và cuộn tròn như chân con nhện sắp chết. Ông ấy đã từng lập dị.
Ông Wilde trèo lên chiếc ghế cao, sau khi quan sát khuôn mặt của tôi, ông nhặt một cuốn sổ quăn góc, rồi mở ra.
“Henry B. Matthews,” ông đọc, “kế toán của Công ty Whysot Whysot, buôn bán đồ trang trí nhà thờ. Gọi ngày 3 tháng Tư. Danh tiếng bị hủy hoại trên đường đua. Được biết đến là kẻ lừa đảo. Danh tiếng cần được được sửa chữa trước ngày 1 tháng Tám. Trả trước năm đô la.” Ông ấy lật trang và lướt ngón tay cụt dọc theo những cột viết sát nhau.
“P. Greene Dusenberry, Mục sư Phúc âm, Fairbeach, New Jersey. Danh tiếng bị tổn hại ở Bowery. Cần được sửa chữa càng sớm càng tốt. Trả trước 100 đô la.”
Ông ho lên rồi nói thêm, “Đã gọi, ngày 6 tháng 4.”
“Vậy là ông không cần tiền, ông Wilde,” tôi hỏi.
“Nghe này,” ông ấy lại ho.
“Bà C. Hamilton Chester, ở Chester Park, thành phố New York. Gọi ngày 7 tháng 4. Danh tiếng bị hủy hoại ở Dieppe, Pháp. Cần được sửa chữa trước ngày 1 tháng 10. Trả trước 500 đô la.”
“Lưu ý.—C. Hamilton Chester, thuyền trưởng USS ‘Avalanche’, được lệnh về nhà từ Hạm đội Nam Thái Bình Dương ngày 1 tháng 10.”
“Chà,” tôi nói, “nghề Phục hồi Danh tiếng thật là béo bở.”
Đôi mắt không màu của ông tìm kiếm tôi, “Tôi chỉ muốn chứng minh rằng tôi đúng. Anh đã nói rằng không thể thành công với tư cách Người phục hồi danh tiếng; rằng ngay cả khi tôi thành công trong một số trường hợp nhất định, tôi sẽ phải trả giá đắt hơn những gì tôi thu được. Hôm nay, tôi có 500 người làm thuê, được trả lương thấp, nhưng họ theo đuổi công việc với sự nhiệt tình có lẽ xuất phát từ nỗi sợ hãi. Những người này thâm nhập mọi tầng lớp xã hội; có mặt trong hầu hết những nhóm xã hội khó vào nhất; những người khác còn là chỗ dựa và niềm tự hào của giới tài chính; nhiều người nắm quyền thống trị không thể tranh cãi trong ‘Giới thời thượng và tài năng.’ Tôi thoải mái chọn họ trong số những người trả lời quảng cáo của tôi. Thật dễ dàng, tất cả họ đều là kẻ hèn nhát. Tôi có thể tăng gấp ba số lượng trong vòng hai mươi ngày nếu tôi muốn. Vì vậy, anh thấy đấy, nắm trong tay danh dự của đồng bào, tôi có tiền của mình.”
“Họ có thể quay ra chống lại ông,” tôi nói.
Ông Wilde xoa ngón tay cái lên đôi tai cụt, và điều chỉnh phần sáp thay cho tai. “Tôi không nghĩ cậy,” ông trầm ngâm lẩm bẩm, ” hiếm khi phải dùng đến đòn roi, và chỉ một lần thôi. Hơn nữa, họ thích tiền lương của mình.”
“Ông dùng đòi roi như thế nào?” tôi hỏi.
Khuôn mặt ông ấy trong một thóng nom thật khủng khiếp. Đôi mắt nheo lại thành một cặp tia lửa màu xanh lá cây.
“Tôi mời họ đến nói chuyện với tôi một chút,” ông nói bằng giọng nhẹ nhàng.
Một tiếng gõ cửa làm ngắt lời Wilde, khuôn mặt ông lấy lại vẻ thân thiệu.
“Ai đó?” ông hỏi.
“Steylette,” là câu trả lời.
“Ngày mai hãy đến,” Wilde đáp.
“Không thể được,” người kia bắt đầu, nhưng phải im bặt sau tiếng sủa của ông Wilde.
“Ngày mai hãy đến,” ông lặp lại.
Chúng tôi nghe thấy tiếng người rời khỏi cửa và rẽ vào góc cầu thang.
“Ai vậy?” tôi hỏi.
“Arnold Steylette, chủ sở hữu và tổng biên tập của tờ nhật báo lớn ở New York.”
Wilde gõ nhịp lên cuốn sổ cái bằng bàn tay cụt ngón, nói thêm: “Tôi trả cho anh ta rất ít tiền, nhưng anh ta nghĩ đó là món hời”.
“Arnold Steylette!” tôi lặp lại, kinh ngạc.
“Đúng ậy,” ông Wilde nói và ho một cách rất tự mãn.
Con mèo vừa bước vào phòng khi ông nói, do dự, ngước nhìn và gầm gừ. Ông trèo xuống ghế và ngồi xổm trên sàn, ôm con vật đó vào lòng và vuốt ve nó. Con mèo cái ngừng gầm gừ và bắt đầu phát ra tiếng gừ gừ lớn, âm sắc dường như tăng dần khi Wilde vuốt ve nó. “Ghi chú ở đâu?” tôi hỏi. Ông ấy chỉ vào cái bàn, và lần thứ một trăm, tôi nhặt tập bản thảo có tựa đề—”HOÀNG TRIỀU ĐẾ CHẾ MỸ.”
Từng trang một, tôi nghiên cứu những trang giấy cũ kỹ, bị sờn do chính tay tôi, và mặc dù tôi đã thuộc lòng tất cả, ngay từ đầu, “Khi từ Carcosa, Hyades, Hastur và Aldebaran,” đến “Castaigne, Louis de Calvados, sinh ngày 19 tháng 12 năm 1877,” tôi đọc với sự chăm chú háo hức, say mê, đôi khi dừng lại để đọc một đoạn thành tiếng, và đặc biệt tập trung vào “Hildred de Calvados, con trai duy nhất của Hildred Castaigne và Edythe Landes Castaigne, người thừa kế đầu tiên,” vân vân.
Khi tôi kết thúc, ông Wilde gật đầu và lại ho.
“Nói về tham vọng chính đáng của cậu,” ông nói, “Constance và Louis có hợp nhau không?”
“Cô ấy yêu anh ấy,” tôi trả lời đơn giản.
Con mèo trên đầu gối ông đột nhiên quay lại đập vào mắt ông, nên ông Wilde hất con mèo ra, trèo lên chiếc ghế đối diện tôi.
“Và bác sĩ Archer! Nhưng đó là vấn đề cậu có thể giải quyết bất cứ lúc nào cậu muốn,” ông nói thêm.
“Đúng vậy,” tôi trả lời, “Bác sĩ Archer có thể đợi, nhưng đã đến lúc tôi gặp anh họ Louis của mình rồi.”
“Đã đến lúc,” ông lặp lại. Sau đó, ông lấy một cuốn sổ khác trên bàn và lật nhanh các trang. “Chúng ta hiện đang liên lạc với mười nghìn người,” ông lẩm bẩm. “Chúng ta có thể tin vào con số 100.000 trong vòng 28 giờ đầu tiên, và trong 48 giờ nữa, cả bang sẽ trỗi dậy hàng loạt. Đất nước cũng theo chân các bang, và phần không theo, ý tôi là California và vùng Tây Bắc, tốt nhất là đừng bao giờ có người ở. Tôi sẽ không gửi cho họ Dấu hiệu Vàng.”
Máu dồn lên đầu, nhưng tôi chỉ trả lời: “Chổi mới quét sạch”.
Ông Wilde nói: “Tham vọng của Caesar và Napoléon mờ nhạt trước điều không thể ngừng nghỉ cho đến khi nó chiếm được tâm trí con người, và kiểm soát ngay cả những suy nghĩ chưa hình thành”.
“Ông đang nói đến vị Vua Áo Vàng,” tôi rùng mình rên rỉ.
“Ông ấy là vị vua mà các hoàng đế phải phục tùng.”
“Tôi sẵn lòng phục tùng ngài ấy,” tôi trả lời.
Ông Wilde ngồi xoa tai bằng bàn tay tàn tật của mình. “Có lẽ Constance không yêu anh ta,” ông gợi ý.
Tôi định trả lời, nhưng có tiếng quân nhạc đột ngột vang lên từ con phố bên dưới, át cả giọng tôi. Trung đoàn kỵ binh thứ 20, trước đây đồn trú ở Núi St.Vincent, đang trở về từ cuộc diễn tập ở Quận Westchester, về doanh trại mới ở quảng trường Đông Washington. Đó là trung đoàn của anh họ tôi. Họ là những chàng điển trai, trong quân phục áo khoác bó sát, màu xanh nhạt, mũ lưỡi trai bảnh bao và quần cưỡi ngựa trắng với sọc kép màu vàng, trông như đúc vào khuôn. Các đội khác đều được trang bị thương, trên mũi thương kim loại phấp phới bay những lá cờ hiệu màng vàng và trắng. Ban nhạc đi qua, chơi bài hành khúc của trung đoàn, rồi đến đại tá và tham mưu, ngựa chen chúc dậm chân, trong khi đầu ngựa vẫn gật gù đồng loạt, và những lá cờ hiệu bay phấp phới trên mũi giáo. Đội kỵ binh, ngồi trên yên ngựa kiểu Anh đẹp đẽ, trông có màu nâu như quả mọng sau chiến dịch không đổ máu giữa các trang trại ở Westchester, và âm thanh của những thanh kiếm chạm vào bàn đạp, và tiếng leng keng của đinh thúc ngựa và súng carbine thật thú vị đối với tôi. Tôi thấy Louis đang cưỡi ngựa đi cùng đội. Anh Louis là sĩ quan đẹp trai nhất tôi từng thấy. Ông Wilde đã leo lên ngồi trên chiếc ghế cạnh cửa sổ, cũng nhìn thấy anh ấy, nhưng không nói gì. Louis quay lại, nhìn thẳng vào cửa hàng của Hawberk khi đi ngang qua, và tôi có thể thấy đôi má nâu của anh ửng hồng. Tôi nghĩ Constance hẳn đã ở bên cửa sổ. Khi những người lính cuối cùng lê bước đi qua, và những lá cờ hiệu cuối cùng biến mất vào Đại lộ số 5 phía Nam, ông Wilde trèo xuống ghế và kéo chiếc rương đang chặn cửa ra.
“Đúng vậy,” ông ấy nói, “đã đến lúc cậu gặp người anh họ Louis rồi.”
Ông ta mở khóa cửa, tôi nhặt mũ và gậy lên, rồi bước vào hành lang. Cầu thang tối om. Loạng choạng, tôi dẫm phải thứ gì đó mềm mềm, nó gầm gừ và khạc, rồi tôi giáng một đòn chí mạng vào con mèo, nhưng cây gậy của tôi run rẩy đập vào lan can và con thú chạy vội trở lại phòng ông Wilde.
Đi ngang qua cửa nhà Hawberk lần nữa, tôi thấy lão vẫn đang xử lý bộ áo giáp, nhưng tôi không dừng lại, bước ra phố Bleecker, đi đến Wooster, men theo khuôn viên Phòng Tử thần, rồi băng qua Công viên Washington đi thẳng về phòng tôi ở Benedick. Ở đây, tôi ăn trưa thoải mái, đọc tờ Herald và Meteor, rồi cuối cùng đi đến chiếc két bằng thép trong phòng ngủ, và vặn khóa thời gian. Đối với tôi, ba phút rưỡi phải chờ đợi trong khi khóa thời gian đang mở là những khoảnh khắc quý giá. Từ lúc tôi vặn mã, cho đến lúc tôi nắm lấy núm xoay và mở cánh cửa thép chắc chắn, tôi sống trong cơn mê sảng của niềm mong đợi. Những khoảnh khắc ấy chẳn hẳn giống như khoảnh khắc trôi qua ở chốn Thiên Đàng. Tôi biết mình sẽ thấy gì khi hết thời gian. Tôi biết chiếc két sắt khổng lồ giữ an toàn cái gì cho tôi, chỉ cho riêng tôi, và niềm vui chờ đợi tuyệt vời hầu như không tăng lên khi chiếc két sắt mở ra và tôi nhấc lên, chiếc vương miện bằng vàng nguyên chất, lấp lánh kim cương. Ngày nào tôi cũng làm vậy, nhưng niềm vui chờ đợi và cuối cùng chạm vào chiếc vương miện một lần nữa dường như chỉ tăng lên qua từng ngày. Đó là chiếc vương miện xứng đáng dành cho một vị Vua của các vị vua, một Hoàng đế của các vị hoàng đế. Vua Áo Vàng có thể khinh thường nó, nhưng người hầu trung thành của ngài sẽ đeo lên.
Tôi ôm nó trong tay cho đến khi chuông báo động trong két vang lên chói tai, rồi dịu dàng và tự hào, tôi đặt nó lại và đóng cánh cửa thép. Tôi chậm rãi bước trở lại phòng làm việc, đối diện với Quảng trường Washington, và tựa người vào bậu cửa sổ. Nắng chiều rọi vào cửa sổ phòng tôi, một làn gió nhẹ lay động những cành du và cành phong trong công viên, giờ đang đầy nụ chồi và lá non. Một đàn chim bồ câu bay vòng quanh tháp Nhà thờ Tưởng niệm; đôi khi đáp xuống mái ngói tím, có khi lượn xuống đài phun nước hoa sen trước vòm đá cẩm thạch. Những người làm vườn đang bận rộn với những luống hoa xung quanh đài phun nước, đất mới xới có mùi thơm ngọt ngào. Một chiếc máy cắt cỏ, được một con ngựa trắng mập mạp kéo, chạy lách cách trên bãi cỏ xanh, và những chiếc xe tưới nước trút những mưa rào lên các con đường nhựa. Xung quanh bức tượng Peter Stuyvesant, thay thế cho bức tượng quái dị được cho là đại diện cho Garibaldi vào năm 1897, đứa trẻ nô đùa dưới ánh nắng mùa xuân, các cô bảo mẫu đẩy xe nôi cầu kỳ với thái độ bất cẩn không quan tâm đến những em bé mặt bánh đúc, có lẽ do sự hiện diện của nửa tá kỵ binh đẹp đẽ đang uể oải nằm dài trên băng ghế. Qua những tán cây, vòm Tưởng niệm Washington lấp lánh như bạc dưới ánh nắng, và xa hơn nữa, ở cực đông của quảng trường, doanh trại bằng đá xám của kỵ binh và chuồng pháo bằng đá granit trắng sống động đầy màu sắc chuyển động.
Tôi nhìn vào Phòng Tử thần ở góc quảng trường đối diện. Một vài người tò mò vẫn còn nán lại quanh lan can sắt mạ vàng, nhưng bên trong khuôn viên, lối đi vắng tanh. Tôi nhìn những đài phun nước lăn tăn và lấp lánh; lũ chim sẻ đã tìm thấy góc tắm mới này, và những bồn nước đầy những sinh vật nhỏ bé có bộ lông bụi bặm. Hai hoặc ba con công trắng bay ngang qua bãi cỏ, và một con chim bồ câu xám ngồi bất động trên cánh tay của một trong những tượng “Định Mệnh”, đến nỗi dường như nó là một phần của tảng đá điêu khắc.
Khi tôi đang hờ hững quay đi, một chút xáo động nhẹ trong nhóm người tò mò lảng vảng trước cổng đã thu hút sự chú ý của tôi. Một chàng trai trẻ bước vào, tiến bước nhanh đầy lo lắng dọc theo con đường rải sỏi dẫn đến cánh cửa bằng đồng của Phòng Tử thần. Anh dừng lại một lúc trước tượng “Định Mệnh Tam Nữ”, và khi ngẩng đầu lên nhìn ba khuôn mặt bí ẩn kia, con chim bồ câu từ chỗ đậu như điêu khắc bay lên, lượn đi lượn lại vài vòng rồi bay về phía đông. Chàng trai áp tay lên mặt, rồi bằng một cử chỉ khó tả, anh ta nhảy lên những bậc thang bằng đá cẩm thạch, cánh cửa bằng đồng khép lại phía sau lưng, nửa giờ sau đám người lảng vảng bỏ đi, và chú chim bồ câu sợ hãi quay trở lại chỗ đậu lúc trước trong vòng tay Định Mệnh.
Tôi đội mũ lên, ra ngoài công viên đi dạo một chút trước bữa tối. Khi băng qua con đường chính, có nhóm sĩ quan đi ngang qua, và một người trong số họ gọi to, “Chào Hildred!,” rồi quay lại bắt tay tôi. Đó chính là anh họ Louis của tôi, đang đứng mỉm cười và gõ gót giày đinh bằng roi ngựa.
“Vừa từ Westchester về,” anh nói; ” đã sống cuộc đời đồng quê; sữa tươi và sữa đông, cô gái vắt sữa đội mũ chống nắng, nói ‘haaa’ và ‘em có thế đâu’ khi anh khen họ xinh đẹp. Anh sắp chết vì thèm một bữa ăn tử tế ở quán Delmonico. Có tin gì mới không?”
“Chẳng có gì,” tôi vui vẻ trả lời. “Sáng nay em thấy trung đoàn của anh về.”
“Thật à? Anh không thấy cậu. Cậu đứng đâu đấy?”
“Ở cửa sổ nhà ông Wilde.”
“Ôi trời ạ!” anh bắt đầu nóng ruột, “ông ta điên nặng rồi! Anh không hiểu tại sao cậu lại—”
Thấy tôi cảm khó chịu vì cơn bộc phát này, anh vội xin lỗi.
“Anh nói thật đấy,” anh Louis nói, “anh không có ý chê bai người cậu giao du cùng, nhưng dù có cố đến mấy anh cũng không hiểu cậu tìm thấy điểm chung gì với ông Wilde. Ông ta không được giáo dục tử tế, đấy là nói nhẹ rồi; ông ta dị dạng khủng khiếp; cái đầu ông ta là cái đầu của một tên tội phạm mất trí. Cậu biết rõ ông ta từng ở nhà thương điên—.”
“Em cũng vậy mà,” tôi bình thản ngắt lời.
Louis giật mình bối rối một lát, nhưng lấy lại bình tĩnh, vỗ vào vai tôi. “Cậu đã hoàn toàn khỏi bệnh,” anh ấy bắt đầu; nhưng tôi lại ngắt lời.
“Em đoán ý anh chỉ đơn giản là người ta phán em chưa từng bị điên phải không.”
“Đương nhiên—ý anh là vậy,” anh cười.
Tôi không thích nụ cười gượng ép ấy, nhưng tôi vui vẻ gật đầu và hỏi anh định đi đâu. Louis nhìn theo các sĩ quan đồng đội giờ đã gần tới Broadway.
“Bọn anh định thử rượu cocktail Brunswick, nhưng nói thật anh đang muốn kiếm cớ đến gặp lão Hawberk. Đi nào, anh sẽ lấy cậu làm cái cớ.”
Chúng tôi gặp lão Hawberk già, ăn mặc chỉnh tề trong bộ đồ mùa xuân mới tinh, đứng trước cửa tiệm hít thở không khí..
“Tôi vừa định đưa con Constance đi dạo một chút trước bữa tối,” ông đáp lại loạt câu hỏi dồn dập của Louis. “Chúng tôi định đi bộ trên bờ kè công viên dọc sông Bắc.”
Ngay lúc đó Constance xuất hiện, mặt tái đi rồi lại ửng hồng khi Louis cúi xuống hôn những ngón tay nhỏ nhắn đeo găng của cô. Tôi định xin phép, viện cớ có hẹn ở phía bắc thành phố, nhưng Louis và Constance không chịu nghe, và tôi hiểu mình được mong đợi ở lại để chiếm sự chú ý của lão Hawberk già. Suy cho cùng, nếu tôi để mắt tới Louis cũng tốt, và khi họ gọi một chiếc xe ngựa đường Spring, tôi lên theo và ngồi cạnh người thợ làm giáp.
Dãy công viên tuyệt đẹp và những bờ kè đá hoa cương nhìn ra bến tàu dọc sông Bắc, được xây năm 1910 và hoàn thành mùa thu 1917, đã trở thành một trong những nơi dạo chơi nổi tiếng nhất đô thành. Chúng trải dài từ bến tàu đến phố 190, nhìn ra dòng sông tráng lệ và đem đến tầm nhìn tuyệt vời ra bờ Jersey và dãy cao nguyên đối diện. Những quán cà phê và nhà hàng rải rác đây đó giữa các tán cây, và mỗi tuần hai lần các ban nhạc quân đội từ nơi đồn trú chơi trong những ki-ốt trên thành lan can.
Chúng tôi ngồi xuống chiếc ghế dài trong ánh nắng dưới chân tượng kỵ sĩ Tướng Sheridan. Constance nghiêng ô che nắng để che mắt, rồi cô cùng Louis bắt đầu cuộc trò chuyện thì thầm không thể nghe rõ. Lão Hawberk già, chống chiếc gậy đầu ngà, châm một điếu xì gà ngon lành, điếu thứ hai mà tôi lịch sự từ chối, mỉm cười nhìn vào khoảng không. Mặt trời lơ lửng thấp trên những khu rừng đảo Staten, cả khu vịnh nhuộm màu vàng rực từ những cánh buồm ấm nắng của những con tàu trong bến cảng.
Cầu tàu, thuyền buồm, du thuyền, những chiếc phà vụng về, boong tàu chật ních người, những toa tàu chở những dòng toa chở hàng màu nâu, xanh và trắng, những chiếc tàu hơi nước sang trọng, những tàu buôn, tàu nạo vét, sà lan và khắp trong vịnh là những chiếc tàu kéo nhỏ bé xấc xược nhả khói phì phò và lăng xăng huýt sáo;—đây là những con tàu khuấy động làn nước lấp lánh ánh nắng xa ngút tầm mắt. Tương phản với sự hối hả của thuyền buồm và tàu hơi nước, một hạm đội tàu chiến trắng im lìm nằm bất động giữa dòng.
Tiếng cười vui vẻ của Constance kéo tôi khỏi cơn mơ màng.
“Anh đang nhìn chằm chằm cái gì thế?” cô hỏi.
“Không có gì—hạm đội ấy mà,” tôi mỉm cười.
Rồi Louis kể cho chúng tôi nghe về những con tàu, chỉ từng chiếc theo vị trí tương đối với Pháo đài Đỏ cũ trên Đảo Thống đốc.
“Cái vật nhỏ hình điếu xì gà kia là tàu phóng lôi,” anh giải thích; “còn bốn chiếc nữa đang nằm gần nhau. Đó là tàu Cá Tarpon, Diều hâu, Cáo biển và Bạch tuộc. Những tàu pháo ở ngay phía trên là Princeton, Champlain, Still Water và Erie. Tiếp theo là tàu tuần dương Faragut và Los Angeles, và trên chúng là thiết giáp hạm California, Dakota, và Washington—soái hạm. Hai khối kim loại lùn tịt đang thả neo kia ngoài Castle William là tàu monitor hai tháp pháo Terrible và Magnificent; đằng sau chúng là tàu bọc thép Osceola.”
Constance nhìn anh với ánh mắt đầy ngưỡng mộ trong đôi mắt xinh đẹp. “Anh biết nhiều thứ thật đấy so với một quân nhân”, cô nói, và tất cả chúng tôi cùng cười theo.
Một lát sau Louis đứng dậy gật đầu với chúng tôi và đưa tay cho Constance, họ cùng nhau đi dọc bờ tường sông. Lão Hawberk nhìn theo họ một lúc rồi quay sang tôi.
“Ông Wilde đã đúng”, lão nói. “Tôi đã tìm thấy miếng giáp đùi bị mất của bộ ‘Huy hiệu Hoàng tử’ trong một căn gác xép tồi tàn trên phố Pell.”
“Số 998 phải không?” tôi hỏi, mỉm cười.
“Đúng vậy.”
“Ông Wilde là người rất thông minh”, tôi nhận xét.
“Tôi muốn ghi nhận công lao của ông ấy về phát hiện tối quan trọng này”, lão Hawberk nói tiếp. “Và tôi muốn mọi người biết ông ấy xứng đáng với danh tiếng ấy.”
“Ông ấy sẽ không cảm ơn lão đâu,” tôi gay gắt đáp lại; “xin đừng nhắc gì về chuyện này.”
“Anh có biết nó đáng giá bao nhiêu không?” Hawberk nói.
“Không, có lẽ là 50 đô la.”
“Nó trị giá 500, nhưng chủ nhân của ‘Huy hiệu Hoàng tử’ sẽ thưởng 2000 đô la cho ai hoàn thiện bộ giáp; phần thưởng đó cũng thuộc về ông Wilde.”
“Ông ấy không muốn! Ông ấy từ chối!” tôi giận dữ đáp. “Lão có biết gì về ông Wilde không? Ông ấy không cần tiền. Ông ấy giàu có—hoặc sẽ trở nên—giàu hơn bất kỳ người sống nào trừ tôi. Khi đó chúng tôi sẽ quan tâm đến tiền bạc làm gì… chúng tôi sẽ quan tâm gì, ông ấy và tôi, khi—khi—”
“Khi nào?” Hawberk kinh ngạc hỏi.
“Lão sẽ thấy,” tôi lại cảnh giác đáp lời.
Lão nheo mắt nhìn tôi, giống hệt như bác sĩ Archer, và tôi biết lão nghĩ tôi bị bệnh tâm thần. Có lẽ vừa rồi lão không thốt ra từ ‘điên’ là may mắn cho lão.
“Không,” tôi đáp lại suy nghĩ không lời của lão, “tâm trí tôi không bị bệnh; đầu óc tôi khỏe mạnh như ông Wilde. Tôi chưa muốn giải thích ngay bây giờ những gì tôi có trong tay, nhưng đó là một khoản đầu tư sẽ mang lại lợi ích, không chỉ là vàng, bạc hay đá quý. Nó còn đảm bảo hạnh phúc và thịnh vượng cho cả một lục địa—đúng vậy, một bán cầu!”
“Ồ,” lão Hawberk thốt lên.
“Và cuối cùng,” tôi bình tĩnh hơn, “nó sẽ đảm bảo hạnh phúc cho toàn thế giới.”
“Và nhân tiện, hạnh phúc và thịnh vượng của chính anh cũng như của ông Wilde?”
“Chính xác,” tôi mỉm cười. Nhưng tôi có thể bóp cổ lão ta vì giọng điệu đó.
Lão Hawberk nhìn tôi im lặng một lúc rồi nói rất nhẹ nhàng, “Sao anh không từ bỏ sách vở và nghiên cứu, anh Castaigne, và đi lang thang giữa núi đồi ở nơi nào đó? Anh từng thích câu cá. Hãy thử ném vài miếng mồi vào lũ cá hồi ở dãy Rangelys xem.”
“Tôi không còn thích câu cá nữa,” tôi trả lời, giọng không một chút khó chịu.
“Anh từng thích mọi thứ,” lão nói tiếp; “điền kinh, du thuyền, bắn súng, cưỡi ngựa…”
“Tôi chưa bao giờ muốn cưỡi ngựa sau cú ngã,” tôi lặng lẽ nói.
“À, ừ nhỉ, cú ngã của anh,” lão lặp lại, nhìn ra chỗ khác.
Tôi nghĩ trò vô nghĩa này đã đi đủ xa, nên kéo câu chuyện trở lại với ông Wilde; nhưng lão lại đang soi mói khuôn mặt tôi theo cách vô cùng khó chịu.
“Anh Wilde,” lão lặp lại, “anh có biết chiều nay ông ấy đã làm gì không? Ông ấy xuống nhà và đóng một tấm biển lên cửa hành lang cạnh cửa phòng tôi; trên đó ghi:
ÔNG WILDE,
CHUYÊN PHỤC HỒI DANH TIẾNG.
Chuông thứ ba.
“Anh có biết phục hồi danh tiếng là gì không?”
“Tôi biết,” tôi trả lời, kìm nén cơn thịnh nộ trong lòng.
“Ồ,” lão ta lại thốt lên.
Louis và Constance đi ngang qua dừng lại rủ chúng tôi cùng đi. Hawberk liếc nhìn đồng hồ. Ngay lúc đó, một làn khói trắng bốc lên từ các ụ pháo của Lâu đài William, và tiếng nổ của đại bác lúc hoàng hôn vang vọng khắp mặt nước và dội lại từ vùng Cao nguyên đối diện. Lá cờ từ từ kéo xuống khỏi cột cờ, tiếng kèn vang lên trên boong tàu chiến màu trắng, và ánh đèn điện đầu tiên le lói trên bờ Jersey.
Khi cùng lão Hawberk quay vào thành phố, tôi nghe thấy Constance thì thầm điều gì đó với Louis mà tôi không hiểu; nhưng Louis thì thầm đáp lại “Em yêu của anh”; và một lần nữa, khi cùng lão Hawberk đi qua quảng trường, tôi nghe thấy tiếng thì thầm “em yêu” và “Constance của anh,” và tôi biết thời khắc tôi cần nói chuyện quan trọng với người anh họ Louis đã gần kề.