Sự giới hạn của giác quan qua góc nhìn của Ambrose Bierce.
Được viết vào cuối thế kỷ 19, ‘The Damned Thing‘ là sự kết hợp hoàn hảo giữa thể loại trinh thám điều tra và viễn tưởng suy tưởng. Không sử dụng những yếu tố tâm linh huyền bí, Bierce xây dựng nỗi sợ hãi dựa trên nền tảng logic: Nếu âm thanh có những tần số tai người không nghe thấy, thì ánh sáng cũng phải có những sắc độ mắt người không nhìn ra. Tác phẩm là một lời cảnh báo đầy trí tuệ về sự kiêu ngạo của con người trước thiên nhiên hoang dã và những định luật vật lý chưa được khai phá.
Dưới đây là toàn văn:
I
Dưới ánh sáng ngọn nến sáp đặt trên đầu chiếc bàn thô kệch, một người đàn ông đang đọc những dòng ghi chép trong một cuốn sổ. Ấy là một cuốn sổ đã cũ, sờn rách; và dường như những con chữ chẳng hề dễ đọc, bởi thi thoảng người này lại đưa trang sách lại gần ngọn nến hòng có thêm chút ánh sáng. Cái bóng cuốn sổ khi ấy che mờ nửa căn phòng, làm nhòa đi vài khuôn mặt và hình dáng; bởi vì ngoài kẻ đang đọc, còn có tám người nữa đang có mặt. Bảy người trong số họ ngồi tựa vào những bức ván gỗ thô sơ, lặng thinh và bất động, và vì căn buồng vốn nhỏ nên họ cũng chẳng xa cái bàn là bao. Chỉ cần duỗi tay ra, bất kỳ ai trong số họ cũng có thể chạm vào người thứ tám, người đang nằm trên bàn, ngửa mặt lên, một phần được phủ bằng tấm ga trải giường, hai tay buông dọc bên sườn . Người này đã chết.
Người đàn ông cầm cuốn sổ không đọc thành lời, và không ai nói gì; tất cả dường như đang chờ đợi điều gì đó xảy ra; chỉ có kẻ đã chết là chẳng còn mong đợi chi. Từ bóng tối mịt mờ bên ngoài vọng vào, qua khe hở dùng làm cửa sổ, tất thảy những âm thanh xa lạ của màn đêm giữa chốn hoang sơ—tiếng tru dài vô danh của một con chó sói nơi xa xăm; tiếng rung động khe khẽ của những côn trùng không ngừng nghỉ trên tang cây; tiếng kêu kỳ lạ của loài chim đêm, khác hẳn với chim ngày; tiếng vo ve của những con bọ cánh cứng to lớn vụng về, và tất cả bản hợp xướng huyền bí ấy của những âm thanh nhỏ bé dường như chỉ mới thoáng nghe một nửa thì bỗng nhiên ngừng bặt, như thể bất giác ý thức được đã lỡ lời. Nhưng không ai để ý đến tất cả những điều này trong nhóm người kia; các thành viên nhóm không ai có thói quan tâm nhàn rỗi đến những chuyện vô bổ; điều ấy thể hiện rõ trên từng đường nét trên khuôn mặt khắc khổ—tỏ rõ ngay cả trong ánh sáng lờ mờ của ngọn nến duy nhất. Rõ ràng họ là dân địa phương—nông dân và tiều phu.
Người đang đọc cuốn sổ có vẻ hơi khác biệt; người ta có thể nói rằng người này rất đời thường, từng trải, mặc dù trang phục lại thể hiện sự gắn bó nhất định với môi trường xung quanh. Áo khoác người này đang mặc khó có thể được chấp nhận ở San Francisco: giày cũng không phải loại giày thành thị, còn chiếc mũ nằm cạnh ông ta trên sàn nhà (gã là người duy nhất không đội mũ) nếu chỉ coi như một vật trang trí cá nhân đơn thuần thì người ta sẽ bỏ lỡ ý nghĩa của nó. Diện mạo ông ta khá dễ mến, với một chút nghiêm nghị; mặc dù vẻ cứng cỏi ấy có thể là do cố tình ra vẻ hoặc trau dồi, cho phù hợp với một người có quyền lực. Bởi vì gã này là một viên pháp y. Chính nhờ chức vụ ấy mà có được cuốn sổ đang đọc; nó được tìm thấy trong số đồ đạc của người chết – trong căn lều gỗ của y, nơi cuộc điều tra đang diễn ra.
Khi viên pháp y đọc xong, ông ta bỏ cuốn sổ vào túi áo ngực. Lúc ấy cánh cửa bị đẩy mở và một thanh niên trẻ bước vào. Rõ ràng, người thanh niên không phải dân sinh ra và lớn lên ở vùng núi: anh ta ăn mặc như người sống ở thành thị. Nhưng quần áo anh này bám đầy bụi, như thể vừa đi đường xa. Thực tế, anh ta đã cưỡi ngựa đứt cả hơi để đến dự phiên điều tra.
Viên pháp y gật đầu; không ai khác chào hỏi anh kia.
“Chúng tôi đang chờ anh,” viên pháp y nói. “Phải giải quyết xong vụ này tối nay.”
Chàng thanh niên mỉm cười. “Tôi xin lỗi vì bắt các ông phải chờ,” anh nói. “Tôi đi không phải để trốn tránh lời triệu tập của ông, mà để gửi cho tờ báo của tôi một bài tường thuật về những gì tôi cho rằng mình được gọi trở về để kể lại.”
Viên pháp y mỉm cười.
“Bài tường thuật mà anh gửi lên báo,” gã nói, “có lẽ khác với lời tường thuật anh sẽ đưa ra ở đây dưới lời tuyên thệ.”
“Chuyện đó,” anh kia đáp lại, giọng khá gay gắt và mặt đỏ bừng, “tùy ông quyết. Tôi dùng giấy than nhiều lớp và có bản sao những gì tôi đã gửi đi. Nó không được viết theo kiểu tin tức, vì chuyện khó mà tin nổi, cứ như truyện hư cấu. Đó có thể được dùng làm một phần lời chứng dưới tuyên thệ của tôi.”
“Nhưng anh nói điều đó khó mà tin nổi.”
“Chuyện ấy chẳng dính dáng gì đến ông, thưa ông, nếu tôi cũng thề rằng đó là sự thật.”
Viên pháp y dường như không bị cơn phẫn nộ lộ liễu của chàng thanh niên làm xao động. Gã im lặng giây lát, mắt nhìn xuống sàn nhà. Những người xung quanh trong căn nhà thì thầm bàn tán, nhưng hiếm khi rời mắt khỏi khuôn mặt của người chết. Một lúc sau, viên pháp y ngước mắt lên nói: “Chúng ta sẽ tiếp tục điều tra.”
Những người đàn ông kia bỏ mũ ra. Nhân chứng được tuyên thệ.
“Tên anh là gì?” viên pháp y hỏi.
“William Harker.”
“Tuổi?”
“Hai mươi bảy.”
“Anh quen biết người quá cố, Hugh Morgan, không?”
“Thưa có.”
“Anh đã ở bên cạnh khi ông ta qua đời phải không?”
“Tôi ở gần ông ta.”
“Câu chuyện như thế nào — ý tôi là sự có mặt của anh?”
“Tôi đến đây thăm ông ấy để đi săn bắn và câu cá. Nhưng một phần mục đích của tôi là nghiên cứu con người Hugh, và lối sống kỳ lạ cô độc của ông ấy. Ông ấy dường như là hình mẫu tốt cho một nhân vật trong tiểu thuyết. Thỉnh thoảng tôi cũng viết truyện mà.”
“Thỉnh thoảng tôi cũng đọc những truyện.”
“Cảm ơn.”
“Truyện nói chung – không phải truyện anh viết.”
Một số thành viên bồi thẩm đoàn bật cười. Trong bối cảnh u ám, sự hài hước lại nổi bật lên. Binh lính dễ dàng cười đùa trong những khoảnh khắc nghỉ ngơi giữa trận chiến, còn một lời bông đùa trong căn phòng chết lại gây bất ngờ.
“Hãy thuật lại các tình tiết dẫn đến cái chết của người này,” viên pháp y nói. “Anh có thể sử dụng bất kỳ ghi chú hoặc biên bản nào anh muốn.”
Người làm chứng nghe lời. Anh rút một bản thảo từ túi áo ngực, đưa sát gần ngọn nến, lật từng trang cho đến khi tìm thấy đoạn mình muốn, rồi bắt đầu đọc.
II
“…Mặt trời vừa mới mọc lúc chúng tôi rời khỏi nhà. Chúng tôi đi săn chim cút, mỗi người đều mang một khẩu súng săn, nhưng chúng tôi chỉ có một con chó. Morgan nói rằng khu vực tốt nhất với chúng tôi nằm phía bên kia một ngọn đồi nào đó ông ấy chỉ, và chúng tôi băng qua đấy bằng lối đường mòn xuyên qua bụi rậm. Phía bên kia là vùng đất tương đối bằng phẳng, phủ đầy yến mạch dại. Khi chúng tôi ra khỏi bụi rậm, Morgan chỉ đứng cách tôi vài bước. Thình lình, chúng tôi nghe thấy, ở một khoảng cách không xe phía bên phải, và cả ở phía trước, một tiếng động như thể tiếng con thú nào đó đang vùng vẫy trong bụi rậm, và chúng tôi có thể thấy bụi cây lay động dữ dội.”
“‘Chúng ta bắn trúng một con nai rồi’, tôi nói. ‘Giá như chúng ta mang theo súng trường.'”
“Morgan dừng bước và chăm chú quan sát bụi cây đang lay động, không nói lời nào, nhưng đã lên cò cả hai nòng súng và sẵn sàng nhắm bắn. Tôi thấy ông ấy có vẻ hơi kích động, nên tôi lấy làm ngạc nhiên, vì ông ấy nổi tiếng là người cực kỳ điềm tĩnh, ngay cả trong những lúc nguy hiểm bất ngờ cận kề.”
“‘Này, thôi nào!’ tôi nói. ‘Anh không định dùng đạn chim cút bắn vào con nai chứ?'”
“Nhưng ông ấy vẫn không đáp lời; nhưng khi thoáng thấy khuôn mặt ông ấy lúc hơi quay về phía tôi, tôi giật mình vì vẻ mặt tái nhợt ấy. Lúc đó tôi hiểu rằng chúng tôi đang gặp phải chuyện nghiêm trọng, và suy đoán đầu tiên của tôi là chúng tôi đã ‘kinh động’ một con gấu xám. Tôi tiến đến bên cạnh Morgan, vừa di chuyển vừa lên đạn.”
“Lúc này những bụi cây yên tĩnh trở lại, và âm thanh cũng chấm dứt, nhưng Morgan vẫn không ngừng tập trung vào chỗ ấy.”
“‘Nó là cái gì vậy? Cái quái quỷ gì thế?’ tôi hỏi.”
“‘Cái thứ đáng nguyền rủa ấy!’ ông ấy đáp, mà không quay đầu lại. Giọng ông trở nên khàn đặc và không tự nhiên. Ông ấy run rẩy thấy rõ.”
“Tôi định nói thêm, thì bỗng thấy đám yến mạch dại gần chỗ xáo động đang chuyển động một cách khó hiểu. Tôi chẳng thể nào diễn tả được. Dường như chúng bị một luồng gió khuấy lên, không chỉ làm cong cả bụi, mà còn đè bẹp xuống – nghiền nát bụi yến mạch dại đến nỗi chẳng thể dựng lên nổi, và chuyển động ấy cứ thế từ từ lan về phía chúng tôi.”
“Chưa từng có điều gì tôi từng thấy lại khiến tôi chấn động kỳ lạ như hiện tượng lạ lẫm và khó hiểu này, thế mà tôi chẳng hề cảm thấy sợ hãi. Tôi nhớ – và kể ra ở đây bởi lẽ, kỳ lạ thay, chính lúc ấy tôi chợt nhớ lại – rằng có lần, khi lơ đãng nhìn ra ngoài cửa sổ, tôi thoáng nhầm một thân cây nhỏ ở gần đó thành một cây lớn hơn ở phía xa. Nó trông có vẻ cùng cỡ với những cây kia, nhưng, vì có hình dáng và chi tiết rõ ràng và sắc nét hơn, nên dường như không hài hòa với xung quanh. Đó chỉ là một sự sai lệch của quy luật viễn cận trong không gian, nhưng nó đã làm tôi giật bắn mình, gần như kinh hãi. Chúng ta quá tin tưởng vào sự vận hành có trật tự của các quy luật tự nhiên quen thuộc, đến nỗi bất kỳ sự khác thường hữu hình nào cũng được xem như mối đe dọa đến sự an toàn của chúng ta, một lời cảnh báo về thảm họa khôn lường. Vì vậy, lúc này, sự chuyển động dường như vô cớ của thảm thực vật, và sự tiến đến chậm rãi, không hề thay đổi của đường nét gây xáo trộn kia thực sự khiến tôi bất an. Người bạn đồng hành của tôi trông thực sự khiếp đảm, và tôi khó có thể tin vào giác quan của mình khi thấy ông ta đột nhiên vác súng lên vai và bắn cả hai nòng vào đám cỏ xao động! Trước khi khói súng tan hết, tôi nghe thấy một tiếng kêu thét dữ dội – tiếng thét như của một con thú hoang – và, Morgan quăng khẩu súng xuống đất, nhảy dựng lên rồi nhanh chóng bỏ chạy khỏi nơi ấy. Cùng lúc đó, tôi bị một vật gì đó vô hình trong làn khói hất mạnh xuống đất – một vật mềm, nặng dường như bị ném vào tôi với lực rất lớn.
“Trước khi tôi kịp đứng dậy và nhặt lại khẩu súng, dường như bị hất khỏi tay tôi, tôi nghe thấy Morgan kêu lên như thể đang trong cơn đau đớn cùng cực, và lẫn với tiếng la của anh ấy là những âm thanh khàn khàn man dại, dữ tợn như tiếng chó gầm gừ đánh nhau. Kinh hãi tột độ, tôi cố gắng đứng dậy và nhìn về hướng Morgan chạy trốn; cầu mong trời đất thương xót mà tha cho tôi không phải chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng như vậy lần nữa! Cách đó chưa đầy ba mươi thước là bạn tôi, đang quỳ một gối, đầu ngửa ra sau một góc đáng sợ, không đội mũ, mái tóc dài rối bời và toàn thân chuyển động dữ dội từ bên này sang bên kia, tiến tới tiến lui. Cánh tay phải của ông ấy giơ lên và dường như thiếu mất bàn tay—ít nhất, tôi chẳng thấy bàn tay đâu cả. Cánh tay kia thì vô hình. Có lúc, theo như trí nhớ của tôi bây giờ hồi tưởng lại cảnh tượng phi thường này, tôi chỉ có thể nhận ra một phần cơ thể ông ấy; như thể ông ấy đã bị xóa nhòa đi một phần—tôi không thể diễn tả khác được—rồi khi ông ấy thay đổi tư thế, toàn bộ cơ thể lại hiện ra trở lại.”
“Tất cả chuyện này chắc hẳn chỉ xảy ra chỉ trong vài giây, thế mà trong khoảng thời gian ấy Morgan đã thể hiện tất cả tư thế của một đô vật kiên cường bị đánh bại bởi sức mạnh và thể hình vượt trội. Tôi chỉ thấy mỗi ông ấy, và đôi khi cũng không nhìn rõ. Suốt cả sự việc, tiếng la hét và chửi rủa của ông ấy vẫn vang vọng, như thể xuyên qua tiếng gầm rú dữ dội, đầy giận dữ mà tôi chưa từng nghe thấy từ cổ họng của bất kỳ con người hay loài vật nào!”
“Tôi chỉ đứng do dự trong giây lát, rồi ném khẩu súng xuống và chạy đến giúp bạn tôi. Tôi mơ hồ tin rằng ông ấy đang lên cơn co giật hoặc một dạng động kinh nào đó. Trước khi tôi kịp đến bên cạnh, ông ấy đã gục xuống và bất động. Mọi âm thanh đều im bặt, nhưng với cảm giác khiếp hãi đến nỗi ngay cả những sự kiện khủng khiếp này cũng không thể gợi lên được, giờ đây tôi thấy sự chuyển động bí ẩn của đám cây dại lan rộng từ khu vực bị giẫm nát xung quanh người bạn bất động tiến về phía rìa khu rừng. Chỉ khi nó đến được khu rừng, tôi mới có thể rời mắt ra nhìn vào người bạn đồng hành. Ông ấy đã chết.”