Tôi là một kẻ hèn nhát. Bây giờ tôi nói ra điều ấy, sau khi hoàn tất một kế hoạch mà không ai có thể phủ nhận là liều lĩnh. Tôi biết rằng việc thực thi kế hoạch thật quá khủng khiếp. Tôi không làm điều ấy vì nước Đức, không. Tôi chẳng thiết gì cái đất nước man rợ đã đẩy tôi vào cảnh khốn cùng của thân phận gián điệp. Hơn nữa, tôi biết một người đàn ông ở Anh—một con người khiêm tốn—đối với tôi người này chẳng kém gì Goethe. Tôi nói chuyện với ông ấy chỉ khoảng một giờ đồng hồ, nhưng trong một giờ đồng hồ đó, ông ấy chính là Goethe… Tôi làm thế, bởi vì tôi cảm thấy viên chỉ huy e dè dòng máu của tôi, dòng máu của bao vị tổ tiên chảy trong huyết quản tôi. Tôi muốn chứng minh cho ông ta thấy rằng một người da vàng có thể cứu được quân đội của ông ta. Hơn nữa, tôi phải trốn thoát khỏi viên đại úy Madden. Bàn tay và giọng nói của hắn có thể gõ cửa nhà tôi bất cứ lúc nào. Tôi lặng lẽ mặc quần áo, tự chào tạm biệt chính mình trong gương, xuống cầu thang, nhìn quanh con phố tĩnh lặng và rời đi. Nhà ga cách nhà tôi không bao xa, nhưng tôi nghĩ đi xe ngựa thì tốt hơn. Tôi lý luận rằng bằng cách này tôi đỡ bị nhận ra; sự thật là trên con phố vắng vẻ, tôi cảm thấy mình nổi bật và dễ bị tổn thương vô cùng. Tôi nhớ mình đã dặn người đánh xe dừng lại trước cổng chính một chút. Tôi bước xuống xe chậm rãi, chậm đến mức giày vò; tôi định đến làng Ashgrove, nhưng tôi mua vé xa hơn một ga. Chuyến tàu sẽ khởi hành chỉ trong vài phút nữa, lúc 8:50. Tôi vội vã, chuyến tiếp theo dự kiến lúc 9:30. Hầu như chẳng có ai trên sân ga. Tôi quan sát các toa tàu: tôi nhớ có vài người nông dân, một người phụ nữ mặc đồ tang, một chàng trai trẻ đang say sưa đọc cuốn Biên niên sử Tacitus, một người lính bị thương nhưng vẫn vui vẻ. Cuối cùng các toa tàu bắt đầu chuyển bánh. Một người đàn ông tôi nhận ra đã chạy vô ích đến cuối sân ga. Đó là Đại úy Richard Madden. Sợ hãi, run rẩy, tôi co rúm người về phía cuối ghế, tránh xa tấm kính đáng sợ.
Từ trạng thái hoảng sợ ấy, tôi chuyển sang niềm hạnh phúc gần như đê hèn. Tôi tự nhủ cuộc đấu tay đôi của mình đã bắt đầu và tôi đã thắng vòng đầu tiên, bằng cách né tránh, dù chỉ trong bốn mươi phút, dù chỉ nhờ một chút may mắn, đòn tấn công của đối thủ. Tôi tự thấy rằng khoảnh chênh lệch ấy không hề nhỏ, bởi vì nếu không có khoảng thời gian quý giá mà lịch chạy tàu dành cho tôi, tôi đã ở trong tù hoặc mất mạng. Tôi lý luận (cũng không kém phần ngụy biện) rằng niềm hạnh phúc hèn nhát của tôi chứng tỏ tôi là một người đủ năng lực đưa cuộc phiêu lưu đến cái kết thúc tốt đẹp. Từ chỗ yếu đuối ấy, tôi rút ra thứ sức mạnh chưa rời bỏ tôi. Tôi đoan chắc rằng con người sẽ tự nguyện dấn thân vào những việc làm tàn bạo hơn mỗi ngày; chẳng mấy chốc sẽ không còn gì ngoài chiến binh và kẻ cướp; tôi cho họ lời khuyên này: Kẻ thi hành một mưu đồ tàn bạo cần phải tưởng tượng rằng hắn đã hoàn thành nó, hắn phải tự đặt ra cho mình một tương lai không thể đảo ngược như quá khứ. Cứ thế, tôi tiếp tục, trong khi đôi mắt của tôi, đôi mắt của một người đã chết, ghi lại dòng chảy của ngày hôm ấy, có lẽ là ngày cuối cùng, và sự lan tỏa của màn đêm. Chuyến tàu chạy với vẻ êm dịu, qua những hàng cây tần bì. Tàu dừng lại, gần như giữa cánh đồng. Chẳng có tiếng gọi tên nhà ga. “Ashgrove ư?” Tôi hỏi mấy cậu bé trên sân ga. “Ashgrove,” chúng đáp lời. Tôi bước xuống tàu.
Một ngọn đèn chiếu sáng sân ga, nhưng khuôn mặt lũ trẻ vẫn chìm trong bóng tối. Một đứa hỏi tôi: “Chú đến nhà bác sĩ Stephen Albert à?” Không đợi câu trả lời, một đứa khác nói: “Nhà ấy còn xa đây lắm, nhưng chú sẽ không bị lạc nếu đi theo con đường bên trái và rẽ trái ở mỗi ngã tư.” Tôi ném cho chúng một đồng xu (đồng xu cuối cùng của tôi), bước xuống mấy bậc đá và đi vào con đường vắng vẻ. Con đường này dốc xuống từ từ. Nó là thứ đường đất sơ sài; phía trên, cành cây đan xen vào nhau, và vầng trăng tròn thấp dường như luôn đồng hành cùng tôi.
Trong giây lát, tôi tưởng Richard Madden bằng cách nào đó đã thấu hiểu được kế hoạch tuyệt vọng của tôi. Nhưng rất chóng, tôi nhận ra điều đó là không thể. Lời khuyên luôn rẽ trái nhắc nhở tôi rằng đó là cách thông thường để tìm ra khoảng trung tâm trong một số mê cung. Tôi biết chút ít về mê cung: xét cho cùng, tôi là chắt của Thôi Biên, cụ từng làm tổng đốc Vân Nam, và đã từ bỏ quyền lực thế tục để viết một cuốn tiểu thuyết còn nổi tiếng hơn cả Hồng Lâu Mộng, và xây dựng nên một mê cung mà ai vào cũng đều lạc lối trong đó. Cụ tôi dành mười ba năm cho hai việc khác nhau này, nhưng cụ bị sát hạt dưới bàn tay của một kẻ ngoại bang, cuốn tiểu thuyết của cụ trở nên vô nghĩa, và chẳng ai tìm thấy mê cung. Dưới những tán cây nước Anh, tôi chiêm nghiệm về mê cung đã mất ấy: Tôi tưởng tượng nó còn nguyên vẹn hoàn hảo trên đỉnh núi bí mật nào đó, tôi hình dung nó bị che mờ bởi những đồng lúa hoặc làn nước, tôi mơ rằng nó vô biên vô tận, không phải là những đình lầu góc cạnh và những lối đi vòng quanh, mà là những dòng sông, những xứ sở và vương quốc… Tôi nghĩ về một Mê cung của những mê cung, một mê cung ngoằn ngoèo uốn lượn, không ngừng mở rộng bao trùm cả quá khứ và tương lai, bằng cách nào đó bao dung luôn cả các vì tinh tú. Đắm chìm trong những hình ảnh ảo diệu ấy, tôi quên mất số phận bị săn lùng của mình. Trong một khoảng thời gian không xác định, tôi cảm thấy mình như một kẻ nhận thức trừu tượng về thế giới. Vùng nông thôn mơ hồ và sinh động, mặt trăng, ánh chiều tàn, tất cả đều thấm vào tôi; cũng như con dốc thoai thoải xóa tan mọi mệt nhọc. Buổi chiều thật gần gũi, vô cùng tận. Lối đi đang hướng xuống và rẽ nhánh, giữa những đồng cỏ giờ đã mờ ảo. Một bản nhạc sắc sảo, gần như chỉ gồm các âm tiết, đến gần rồi lại lùi xa theo nhịp gió lên xuống, bị che khuất bởi lá cây và khoảng cách. Tôi nghĩ rằng một người có thể là kẻ thù của những người khác, của những khoảnh khắc của người khác, nhưng không thể là kẻ thù của một quốc gia: không thể là kẻ thù của đom đóm, ngôn từ, khu vườn, dòng sông, hoàng hôn. Vì vậy, tôi đi đến trước một cánh cổng cao han rỉ. Qua song sắt, tôi nhận ra một hàng cây dương và một kiểu vọng lâu nào đó. Bỗng nhiên tôi hiểu ra hai điều, điều đầu tiên tầm thường, điều thứ hai gần như không thể tin nổi: thứ âm nhạc ấy phát ra từ vọng lâu, nhạc Trung Quốc. Chính vì thế tôi đón nhận nó trọn vẹn mà chẳng cần để tâm. Tôi không nhớ có chuông hay mõ cửa hay tôi có gõ cửa không. Tiếng nhạc vẫn tiếp tục vang lên.
Nhưng từ sâu trong ngôi nhà ấm cúng ấy, một chiếc đèn lồng đang tiến lại gần: một chiếc đèn lồng mà ánh sáng của nó bị những thân cây che khuất, một chiếc đèn lồng giấy, hình dạng như chiếc trống và có màu sắc của mặt trăng. Một người đàn ông cao lớn mang nó. Tôi không nhìn thấy gương mặt ông ấy, vì ánh sáng làm tôi lóa mắt. Ông mở cổng và nói chậm rãi bằng ngôn ngữ của tôi.
“Tôi thấy vị hiền triết Tây Bằng vẫn không ngừng cố gắng xoa dịu nỗi cô đơn của tôi. Hẳn ngài sẽ muốn đến thăm khu vườn phải không?”
Tôi nhận ra đó là tên của một trong những lãnh sự của chúng tôi và lặp lại, trong sự bối rối:
“-Khu vườn à?”
“-Khu vườn của những lối đi rẽ nhánh.”
Điều gì đó chợt khuấy động trong ký ức tôi, và tôi thốt lên với vẻ chắc chắn khó mà hiểu nổi:
“Khu vườn của cụ tổ nhà tôi, Thôi Biên.”
“Cụ tổ của ngài ư? Vị tổ tiên lừng lẫy của ngài à? Xin mời vào.”
Lối đi ẩm ướt uốn lượn như những lối đi thời thơ ấu tôi. Chúng tôi đến một thư viện có sách phương Đông và phương Tây. Tôi nhận ra một vài tập sách viết tay được bọc trong lụa vàng nằm trong bộ Vĩnh Lạc đại điển do vị hoàng đế thứ ba của triều Minh chỉ đạo biên soạn, và chưa bao giờ được mang đi in ấn. Đĩa nhạc đang quay bên cạnh một con phượng hoàng bằng đồng. Tôi còn nhớ một chiếc bình men hồng và một chiếc khác, có niên đại hàng thế kỷ, màu xanh lam mà những người thợ khéo léo của chúng tôi đã sao chép từ thợ gốm Ba Tư…
Stephen Albert nhìn tôi mỉm cười. Ông ấy (như tôi đã nói) rất cao, với những đường nét sắc sảo, đôi mắt xám và bộ râu xám. Ông ấy có nét gì đó vừa giống một linh mục vừa giống một thủy thủ; sau này ông ấy kể rằng ông từng là một nhà truyền giáo ở Thiên Tân “trước khi khao khát trở thành một nhà Hán học.”
Chúng tôi ngồi xuống; tôi ngồi trên một chiếc ghế dài và thấp; ông ấy quay lưng về phía cửa sổ có một chiếc đồng hồ tròn cao. Tôi đoán rằng kẻ truy đuổi tôi, Richard Madden, sẽ không bắt kịp trong ít nhất một giờ đồng hồ nữa. Cái quyết tâm không lay chuyển của tôi có thể chờ đợi.
“Số phận của Thôi Biên thật đáng kinh ngạc,” Stephen Albert nói. “Tổng đốc tỉnh nhà, uyên bác về thiên văn học, chiêm tinh học và không ngừng chú giải kinh điển, là một kỳ thủ, một nhà thơ và thư pháp gia nổi tiếng: ngài ấy đã từ bỏ tất cả để viết một cuốn sách và xây một mê cung. Ngài từ bỏ những thú vui của cường quyền, của công lý, của những cuộc ăn chơi, tiệc tùng, và thậm chí cả học thức, rồi ẩn dật suốt mười ba năm trong Thanh Tĩnh Các. Khi ngài ấy qua đời, người thừa kế chẳng tìm thấy gì ngoài những bản thảo hỗn độn. Gia đình, như ông có thể biết, muốn ném tất vào lửa; nhưng người thi hành di chúc của ngài ấy – một vị Đạo sĩ hay Nhà sư nào đó – đã nhất quyết đem đi công bố.”
“Những người mang dòng máu của Thôi Biên chúng tôi,” tôi đáp, “vẫn tiếp tục nguyền rủa cái vị ấy. Cuốn sách thật vô nghĩa. Đó là tập hợp những bản thảo mâu thuẫn hỗn loạn. Tôi đã từng xem qua: ở chương thứ ba, người anh hùng chết, ở chương thứ tư thì anh ta vẫn còn sống. Còn về công trình kia của Thôi Biên, Mê cung ấy…”
“Mê cung ở đây,” ông nói, chỉ tay vào một chiếc bàn viết cao bằng sơn mài.
“Một mê cung bằng ngà voi!’ Tôi thốt lên. ‘Một mê cung tí hon quá đỗi…’”
“Một mê cung của những biểu tượng,” ông ấy sửa lại. “Một mê cung vô hình của thời gian. Phận tôi, một người Anh man rợ, đã được định mệnh an bài để hé lộ cái bí ẩn sáng trong này. Sau hơn một trăm năm, nhiều chi tiết đã không thể tìm lại được, nhưng chẳng khó suy đoán điều gì đã xảy ra. Thôi Biên hẳn từng nói: ‘Ta lui về để viết một cuốn sách.’ Và một lần khác: ‘Ta lui về để xây một mê cung.’ Mọi người đều hình dung ra hai tác phẩm; chẳng ai nghĩ rằng sách và mê cung là một vật thể duy nhất. Thanh Tĩnh Các đứng giữa một khu vườn, có lẽ rất rối rắm; việc này có lẽ đã gợi cho người đời về một mê cung vật chất. Thôi Biên qua đời; chẳng một ai, trên vùng đất rộng lớn từng thuộc về ngài, tìm thấy mê cung; chính cái hỗn loạn trong cuốn tiểu thuyết đã gợi ý cho tôi rằng ấy mới chính là mê cung thật. Hai điều đã cho tôi lời giải đúng đắn cho vấn đề. Một: truyền thuyết kỳ lạ rằng Thôi Biên đã tự đặt cho mình nhiệm vụ xây dựng một mê cung thật sự vô tận. Hai: một mảnh thư mà tôi đã tìm thấy.”
Albert đứng dậy. Ông ấy quay lưng lại với tôi trong một lúc; ông mở một ngăn kéo của chiếc bàn đen vàng. Ông quay lại với một mảnh giấy từng có màu đỏ thẫm; giờ đã chuyển sang màu hồng nhạt, có kẻ ô. Trên đó chính là dòng chữ thư pháp nổi tiếng của Thôi Biên. Tôi đọc những dòng chữ ấy với nỗi khó hiểu và niềm nhiệt thành, những lời được một người cùng huyết thống với tôi tỉ mi viết lại bằng ngọn bút lông: Ta để lại cho những tương lai muôn mặt (không phải cho tất cả) khu vườn của ta, nơi có những lối đi rẽ nhánh. Tôi lặng lẽ trả lại mảnh giấy. Albert nói tiếp:
“Trước khi tìm thấy bức thư này, tôi đã tự hỏi bằng cách nào một cuốn sách có thể vô cùng tận. Tôi phỏng đoán không có phương cách nào khác ngoài một quyển sách tuần hoàn, vòng tròn. Một quyển sách mà trang cuối đồng nhất với trang đầu tiên, với khả năng tiếp diễn vô thời hạn. Tôi cũng nhớ lại đêm ấy ở tâm điểm của Nghìn lẻ một đêm, khi Nữ hoàng Shahrazad (do sự lơ đãng huyền diệu của người sao chép) bắt đầu kể lại nguyên văn câu chuyện Nghìn lẻ một đêm, với nguy cơ quay trở lại cái đêm mà nàng kể câu chuyện đó, và cứ thế mãi đến vô tận. Tôi cũng tưởng tượng ra một tác phẩm mang tính kế thừa kiểu Platon, truyền từ cha sang con, trong đó mỗi cá nhân mới sẽ thêm một chương hoặc thành kính sửa chữa các trang trước của tiền nhân. Những phỏng đoán này làm tôi bối rối; nhưng chẳng có suy đoán nào dường như tương ứng, dù chỉ là xa vời, với những chương đầy mâu thuẫn của Thôi Biên. Trong sự bối rối này, người ta gửi cho tôi từ Oxford bản thảo mà ông đã xem qua. Tôi dừng lại, một cách tự nhiên thôi, ở câu này: Ta để lại cho những tương lai muôn mặt (không phải cho tất cả) khu vườn của ta, nơi có những lối đi rẽ nhánh. Gần như ngay lập tức tôi đã hiểu; khu vườn của những lối đi rẽ nhánh chính là cuốn tiểu thuyết hỗn loạn ấy; cụm từ “những tương lai muôn mặt (không phải tất cả)” gợi cho tôi hình ảnh về sự phân nhánh trong thời gian, chứ không phải trong không gian. Việc đọc lại toàn bộ tác phẩm đã xác nhận thuyết này. Trong tất cả các câu chuyện hư cấu, mỗi khi một người đối mặt với nhiều lựa chọn khác nhau, họ sẽ chọn một và loại bỏ những lối đi còn lại; trong tác phẩm của Thôi Biên, nhân vật gần như không thể tháo gỡ, nên đã chọn—đồng thời—tất cả. Do đó, nhân vật tạo ra những tương lai muôn mặt, những thời điểm muôn mặt, những thời điểm này cũng sinh sôi nảy nở và phân nhánh. Từ đó dẫn đến những mâu thuẫn trong tiểu thuyết. Giả sử, Phương có một bí mật; một kẻ xa lạ tới nhà anh ta; Phương quyết định giết hắn. Tất nhiên, có một số kết quả có thể xảy ra: Phương có thể giết kẻ xâm nhập, kẻ xâm nhập có thể giết Phương, cả hai có thể toàn mạng, cả hai có thể mất mạng, vân vân. Trong tác phẩm của Thôi Biên, tất cả những kết quả ấy đều xảy ra; mỗi kết quả là điểm khởi đầu cho những lối đi rẽ nhánh khác. Đôi khi, những lối đi trong mê cung này gặp nhau: thí dụ, ngài đến ngôi nhà này, nhưng trong một quá khứ khả thể khác, ngài là kẻ thù của tôi, trong một quá khứ khác, ngài lại là bạn tôi. Nếu ngài chấp nhận cách phát âm khó sửa của tôi, chúng ta sẽ cùng đọc vài trang sách.”
Khuôn mặt ông, phản chiếu trong vòng tròn rực rỡ của ngọn đèn, quả thực là khuôn mặt của một người già, nhưng lại mang một vẻ cứng rắn, thậm chí bất tử. Ông đọc chậm rãi và chính xác hai phiên bản của cùng một chương sử thi. Trong phiên bản đầu tiên, một đạo binh hành quân về phía trận chiến băng qua một ngọn núi hoang vắng; nỗi kinh hoàng từ đất đá và bóng tối khiến họ không thiết sống, và họ giành chiến thắng dễ dàng; trong phiên bản thứ hai, cùng đạo binh ấy đi qua một cung điện đang tiệc tùng; trận chiến huy hoàng dường như đối với họ là sự tiếp nối của bữa tiệc, và họ giành chiến thắng. Tôi lắng nghe với lòng kính trọng những câu chuyện cổ xưa này, có lẽ không kém phần đáng ngưỡng mộ so với chính sự thật rằng dòng máu của tôi đã tạo ra những câu chuyện ấy và một người đàn ông từ đế chế xa xôi đã khôi phục chúng lại cho tôi, trong một cuộc phiêu lưu đầy nguy hiểm, trên một hòn đảo ở trời Tây.
Tôi nhớ những lời cuối cùng, lặp đi lặp lại trong mọi chương như một mệnh lệnh bí mật: Các anh hùng đã chiến đấu như thế, trái tim cao thượng của họ bình tĩnh, lưỡi kiếm của họ bạo liệt, cam chịu giết chóc và cam chịu cái chết.
Từ cái khoảnh khắc ấy, tôi cảm nhận được xung quanh mình và trong thân thể tối tăm của tôi một sự xâm chiếm vô hình, không thể nắm bắt nổi. Không phải là sự xâm chiếm của những đạo quân phân tán, song hành rồi cuối cùng hợp lại, mà là một sự khuấy động khó tiếp cận hơn, gần gũi hơn mà chúng bằng cách nào đó đang báo hiệu trước. Stephen Albert tiếp tục:
“Tôi không tin vị tổ tiên lừng lẫy của ông lại chỉ chơi đùa vô vị với những biến thể. Tôi chẳng cho là đáng tin khi ông ấy đã hy sinh mười ba năm cho việc thực hiện vô tận một thí nghiệm tu từ. Ở đất nước ông, tiểu thuyết là một thể loại hạ đẳng; vào thời đó, thể loại này còn bị coi thường. Thôi Biên là một tiểu thuyết gia thiên tài, nhưng ngài ấy cũng là một người uyên bác, nên chắc hẳn không tự coi mình chỉ là một tiểu thuyết gia đơn thuần. Lời chứng của những người cùng thời với ngài ấy khẳng định – và cuộc đời ngài ấy cũng chứng minh rõ ràng – những khuynh hướng siêu hình thần bí. Tranh luận triết học chiếm một phần lớn trong tiểu thuyết của ngài. Tôi biết trong tất cả các vấn đề, không vấn đề nào khiến ngài ấy trăn trở và giày vò bằng vấn đề thăm thẳm của thời gian. Ấy vậy mà, đó lại là vấn đề duy nhất không xuất hiện trong các trang sách của Khu vườn. Ngài ấy thậm chí còn chẳng sử dụng những từ ngữ có nghĩa là thời gian. Ông giải thích sự lược bỏ có chủ ý này như thế nào?”
Tôi đưa ra vài lời giải thích; tất cả đều không thỏa đáng. Chúng tôi cùng thảo luận; cuối cùng, Stephen Albert nói với tôi:
“Trong một câu đố về bàn cờ, từ duy nhất cần tránh là gì?”
Tôi suy nghĩ một lát rồi trả lời:
“-Từ “bàn cờ”.
“Chính xác,” Albert nói. “Khu vườn của những lối đi rẽ nhánh là một câu đố khổng lồ, hay một dụ ngôn, với chủ đề là thời gian; nguyên nhân sâu kín này khiến cho tên gọi của chủ đề bị ẩn giấu. Việc bỏ qua có chủ đích một từ, phải viện đến những ẩn dụ vụng về và những lời giải thích hiển nhiên vòng quanh, có lẽ là cách nhấn mạnh nhất để chỉ ra chủ thể này. Đó là phương thức quanh co mà Thôi Biên ưa dùng trong từng khúc quanh của cuốn tiểu thuyết vô tận của ngài ấy. Tôi đã so sánh hàng trăm bản thảo, sửa chữa những lỗi do sự cẩu thả của người sao chép gây ra, phỏng đoán mục đích của sự hỗn loạn này, khôi phục—hoặc tôi tin là tôi đã khôi phục—trật tự nguyên thủy, và tôi dịch toàn bộ tác phẩm: Tôi biết chắc chắn ngài ấy không sử dụng từ ‘thời gian’ dù chỉ một lần. Lời giải thích rất hiển nhiên: Khu vườn của những lối đi rẽ nhánh là một hình ảnh chưa hoàn chỉnh, nhưng không sai, về vũ trụ theo quan niệm của Thôi Biên. Không giống như Newton và Schopenhauer, cụ tổ của ông không tin vào thời gian tuyệt đối đồng nhất. Ngài ấy tin vào vô số chuỗi thời gian vô hạn, như một mạng lưới không ngừng mở rộng chóng mặt của những những dòng thời gian phân kỳ, hội tụ và song song. Mạng lưới thời gian này, những dòng thời gian tiếp cận, phân nhánh, giao nhau hoặc mãi mãi không nhận thức được sự tồn tại của nhau, bao trùm mọi khả năng. Chúng ta không tồn tại trong phần lớn những dòng thời gian ấy; trong một số, ông tồn tại mà tôi thì không; trong số khác, tôi tồn tại mà ông thì không; trong những dòng thời gian khác, cả hai chúng ta đều không tồn tại. Trong dòng thời gian này, nhờ cơ duyên xảo hợp, ông đã đến nhà tôi; trong một dòng thời gian khác, ông, khi băng qua khu vườn, tìm thấy tôi đã chết; trong một dòng thời gian khác, tôi đang nói chính những lời này, nhưng tôi chỉ là một sai lầm, một bóng ma.
“Trong tất cả,” tôi nói, không giấu nổi run rẩy trong giọng nói, “tôi đều biết ơn và kính trọng ông vì đã tái tạo lại khu vườn Thôi Biên.”
“Không phải trong tất cả,” ông ấy thì thầm với một nụ cười. “Thời gian không ngừng phân nhánh thành vô số tương lai. Trong một dòng nào đó, tôi là kẻ thù của ngài.”
Một lần nữa tôi lại cảm nhận thấy cái cảm giác tôi đã nói đến trên kia. Đối với tôi, dường như khu vườn ẩm ướt bao quanh ngôi nhà đang tràn ngập những con người vô hình. Những con người đó là Albert và tôi, bí mật, bận rộn và muôn hình vạn trạng trong những chiều không gian khác của thời gian. Tôi ngước mắt lên, và cơn ác mộng mờ ảo ấy tan biến. Trong khu vườn vàng đen, chỉ có một người đàn ông; nhưng người đàn ông ấy mạnh mẽ như một pho tượng…và ông ta đang bước dọc theo lối đi—Đại úy Richard Madden.”
“Tương lai đã tồn tại sẵn rồi,” tôi đáp, “nhưng tôi là bạn của ông. Liệu tôi có thể xem lại bức thư một lần nữa được không?”
Albert đứng dậy. Với dáng cao lớn, ông ấy mở ngăn kéo của chiếc bàn cao; trong giây lát quay lưng lại với tôi. Tôi sẵn sàng khẩu súng lục. Tôi bóp cò hết sức cẩn thận: Albert gục xuống ngay lập tức, không một tiếng rên rỉ. Tôi thề rằng cái chết của ông ấy là tức thì: nhanh như chớp.
Phần còn lại thật phi thực tế, và chẳng đáng bàn đến. Madden xông vào, bắt giữ tôi. Tôi bị kết án tử hình treo cổ. Tôi đã thắng một cách ghê tởm: tôi tiết lộ cho Berlin cái tên bí mật của thành phố họ phải tấn công. Hôm qua họ ném bom thành phố đó; tôi đọc được việc này trên chính những tờ báo đã đưa tin cho nước Anh về bí ẩn nhà Hán học Stephen Albert bị một kẻ xa lạ, Du Dực, sát hại. Tên chỉ huy đã giải mã được bí ẩn đó. Hắn biết rằng vấn đề của tôi là phải chỉ ra (giữa tiếng ồn ào của chiến tranh) cái thành phố tên là Albert, và tôi đã chẳng tìm ra cách nào khác ngoài việc giết một người mang cái tên ấy. Hắn không biết (chẳng ai có thể biết) nỗi hối hận và mệt mỏi vô cùng tận của tôi.
-HẾT-
—Góc suy ngẫm:
“Khu vườn của những lối đi rẽ nhánh” của Jorge Luis Borges là một kiệt tác văn chương mang tính tiên tri, nơi cấu trúc trinh thám ly kỳ của một điệp viên trong Chiến tranh thế giới thứ nhất chỉ là lớp vỏ bọc cho một tiểu luận triết học sâu sắc về bản chất của thời gian và không gian. Bằng tư duy toán học và logic học sắc sảo, Borges đã đi trước thời đại khi mô tả một vũ trụ không chảy theo một đường thẳng tuyến tính, mà rẽ nhánh vô tận thành một mạng lưới các dòng thực tại song song cùng tồn tại.
Biểu tượng “khu vườn mê cung” của người tổ tiên Thôi Biên hóa ra không phải là một công trình vật lý, mà chính là một cuốn tiểu thuyết vô biên, nơi mọi khả năng của một quyết định đều được thực hiện đồng thời, tạo ra những tương lai phân kỳ và đan xen lẫn nhau. Lối viết mạch lạc, duy mỹ của Borges biến tác phẩm thành một mô hình giả định lý tưởng dự báo chính xác về Thuyết đa thế giới trong cơ học lượng tử hiện đại, nơi mỗi ngã rẽ của số phận không loại trừ nhau mà mở ra các chiều kích hiện sinh độc lập. Đỉnh cao logic và tính bi kịch của câu chuyện phát lộ ở nút thắt cuối cùng, khi hành động ám sát nhà học giả Albert của nhân vật chính vừa là một nhiệm vụ tình báo lạnh lùng, vừa là một minh chứng hoàn hảo cho việc hai người có thể là tri kỷ trong dải thời gian này nhưng lại là kẻ thù ở một dòng thời gian khác, để lại một dư vị ám ảnh về sự bất lực của con người trong mê cung thời gian vô tận.
Bấm vào link shopee ủng hộ mình nha :-3