🌀 The Circular Ruins: Khi vạn vật chỉ là một giấc mơ nối dài.
🔥 “Tại một ngôi đền cổ bị thiêu rụi bởi lửa hoang, một kẻ lạ mặt đơn độc xuất hiện với một mục đích điên rồ: Dùng ý chí thuần túy để ‘nằm mơ’ ra một con người, và đưa thực thể bằng xương bằng thịt đó vào đời thực.
🧩 Bằng một cấu trúc logic hình tròn (recursion) cực kỳ chặt chẽ, Jorge Luis Borges không chỉ kể một câu chuyện viễn tưởng, mà ông đang đặt ra một câu hỏi siêu hình học đầy ám ảnh: Bản chất của thực tại là gì?
👁 Liệu chúng ta có thực sự tồn tại, hay tất cả chỉ là những nhân ảnh đang được mơ bởi một thực thể khác?
🕯 Một kiệt tác duy mỹ, mạch lạc và thách thức mọi giới hạn của tư duy.”
ĐỌC TRUYỆN Ở ĐÂY:
Những phế tích hình tròn
(Truyện ngắn, 1944))
Và nếu người đó ngừng mơ về ngươi…
Through the Looking-Glass, vi
Chẳng ai thấy người đàn ông kia xuống thuyền trong đêm tĩnh lặng, cũng không ai thấy chiếc thuyền tre đang chìm dần xuống lớp bùn thiêng, nhưng chỉ vài ngày sau, ai ai cũng đều biết người đàn ông trầm mặc ấy đến từ phương Nam, và quê hương hắn ta là một trong vô số ngôi làng ở thượng nguồn, trên sườn núi hiểm trở, nơi ngôn ngữ Zend chẳng bị pha tạp với tiếng Hy Lạp, và nơi ấy bệnh phong rất hiếm gặp. Sự thật là, con người tóc bạc kia đã hôn lên bùn, leo lên bờ sông mà không hề né tránh (có lẽ không cảm thấy) những cây sậy cứa vào da thịt mình, rồi lê bước, choáng váng và đầy máu, đi đến khu đất hình tròn nơi có bức tượng con hổ hay ngựa gì đó bằng đá, ngày xưa bức tượng từng có màu lửa và giờ thành màu tro. Khoảng đất vòng tròn ấy từng là một ngôi đền bị những ngọn lửa cổ xưa thiêu rụi, bị khu rừng rậm đầm lầy xâm lấn, và vị thần của nơi đây không còn được con người tôn kính. Người lạ mặt nằm dài dưới bệ đá. Mặt trời lên cao đánh thức hắn. Hắn kiểm tra và rồi không hề ngạc nhiên khi thấy vết thương đã lành; hắn bèn nhắm đôi mắt nhợt nhạt và ngủ thiếp đi, không phải vì thể xác yếu đuối mà bởi một ý chí kiên định. Hắn biết rằng ngôi đền này là nơi mục đích bất khuất của mình cần đi đến; hắn biết rằng những hàng cây vô tận kia đã không thể kìm hãm được, ở hạ lưu, tàn tích của một ngôi đền linh thiêng khác, cũng từng thờ những vị thần đã bị thiêu rụi và đã chết; hắn ta biết rằng nghĩa vụ trước mắt của mình là ngủ. Khoảng nửa đêm, tiếng kêu không ngớt của một con chim đánh thức hắn dậy. Dấu chân trần, vài quả sung và một chiếc bình gốm cảnh báo cho hắn biết người dân trong vùng đã kính cẩn quan sát giấc ngủ của hắn, và đang cầu xin sự che chở hoặc sợ hãi phép thuật của hắn ta. Hắn cảm thấy lạnh sống lưng và tìm trong bức tường đổ nát một hốc mộ, rồi che mình bằng những chiếc lá lạ lẫm.
Mục đích dẫn dắt hắn ta không phải điều bất khả thi, mặc dù mục đích ấy mang tính siêu nhiên. Hắn muốn mơ ra một con người: hắn muốn mơ ra người đó với độ tỉ mỉ chính xác và hiển hóa người kia vào thực tại. Dự án ma thuật này đã chiếm hết toàn bộ không gian tâm hồn hắn; nếu ai đó hỏi tên hắn hoặc bất kỳ chi tiết nào về đời sống trước đây, hắn ta sẽ không thể trả lời. Ngôi đền hoang tàn và đổ nát này rất phù hợp với hắn ta, vì nó là một phần nhỏ nhất của thế giới hữu hình; sự gần gũi của những người tiều phu cũng vậy, vì họ chăm lo cho những nhu cầu ít ỏi của hắn. Gạo và trái cây mà họ đem cúng đủ nuôi sống cơ thể hắn, thứ hiến dâng trọn vẹn cho nhiệm vụ duy nhất là ngủ và mơ.
Ban đầu, những giấc mơ rất hỗn loạn; chẳng bao lâu sau, giấc mơ dần mang tính chất biện chứng. Người lạ mặt mơ thấy mình đang ở trung tâm một giảng đường vòng tròn, mà theo cách nào đó chính là ngôi đền đã cháy rụi: những đám học sinh trầm lặng ngồi kín khán đài; gương mặt của những người ngồi cuối lơ lửng cách xa hàng thế kỷ, ở độ cao của các vì sao, nhưng vẫn hoàn toàn sáng tỏ. Người đàn ông giảng bài cho họ về giải phẫu học, vũ trụ học và ma thuật: những gương mặt ấy lắng nghe với niềm lo lắng và cố gắng đáp lại bằng thái độ thấu hiểu, như thể họ cảm nhận được tầm quan trọng của kỳ thi này, kỳ thi sẽ cứu rỗi một trong số họ khỏi thân phận chỉ là ảo ảnh phù du và được đưa vào thế giới thực. Người đàn ông, cả trong giấc mơ và khi tỉnh, đều suy ngẫm về câu trả lời của những nhân ảnh kia, không để mình bị những kẻ mạo danh lừa dối, và trong những điều khó hiểu nhất định, nhận ra một trí tuệ đang lớn dần. Hắn đang tìm kiếm một linh hồn xứng đáng được tham gia vào vũ trụ.
Đến đêm thứ chín hay mười, hắn nhận ra với chút cay đắng rằng chẳng thể trông đợi gì từ những học trò thụ động tiếp nhận giáo lý của mình, mà chỉ có thể mong đợi ở những kẻ đôi khi dám đưa ra phản biện hợp lý. Những kẻ đầu tiên, dù đáng được yêu thương và quý mến, không thể vươn lên thành những cá nhân độc lập; những kẻ sau thì ở đẳng cấp cao hơn. Một buổi chiều nọ (lúc này ngay cả buổi chiều cũng dâng hiến cho giấc mơ, giờ đây hắn chỉ thức vài giờ vào lúc bình minh), hắn đã vĩnh viễn giải tán ngôi trường ảo ảnh rộng lớn ấy, và chỉ giữ lại một học trò duy nhất. Đó là một cậu bé trầm lặng, mặt tái xạm, đôi lúc ngỗ ngược, với những đường nét sắc sảo phản chiếu chính kẻ đang mơ. Việc đột ngột loại bỏ các bạn học không làm cậu bé bối rối bao lâu; sự tiến bộ của cậu, sau vài buổi học riêng, đã khiến người thầy phải kinh ngạc. Thế nhưng, thảm họa ập đến. Một ngày nọ, người đàn ông tỉnh dậy khỏi giấc ngủ mơ như thể từ một sa mạc nhớp nháp, nhìn chằm chằm vào ánh sáng phù phiếm của buổi chiều, mà thoạt đầu hắn nhầm tưởng là bình minh, và nhận ra rằng mình không hề nằm mơ. Suốt đêm đó và suốt cả ngày hôm sau, sự tỉnh táo không thể chịu đựng nổi của chứng mất ngủ ập đến với hắn. Hắn muốn dấn thân vào khu rừng, muốn tự hành mình đến kiệt sức; hắn chỉ chợp mắt được vài giấc ngủ chập chờn giữa những tán cây độc dược, thoáng mơ màng những ảo ảnh sơ khai vô dụng. Hắn cố gắng tập hợp lại trường học, nhưng vừa kịp thốt ra vài lời khích lệ ngắn ngủi, thì trường học lại biến dạng, rồi tan biến. Trong trạng thái tỉnh táo gần như thường trực, những giọt nước mắt giận dữ làm cay xè đôi mắt già nua của hắn.
Hắn hiểu rằng nỗ lực nhào nặn cái chất liệu hỗn độn quay cuồng cấu thành nên giấc mơ là nhiệm vụ gian lao nhất mà một người có thể đảm nhận, ngay cả khi người này đã thấu hiểu mọi bí ẩn của tất cả bậc cao lẫn bậc thấp; gian lao hơn nhiều so với việc se nên sợi dây bằng cát hay đúc tiền xu từ cơn gió vô hình. Hắn thề sẽ quên đi ảo giác khủng khiếp đã dẫn hắn lạc hướng lúc đầu và tìm kiếm một phương pháp khác. Trước khi thực hiện, hắn dành một tháng để phục hồi sức lực đã lãng phí vào cơn mê. Hắn từ bỏ mọi sự chuẩn bị trước cho giấc mơ, và sau đó gần như ngay lập tức có thể ngủ được một quãng thời gian hợp lý trong ngày. Những lần hiếm hoi hắn mơ trong suốt giai đoạn đó, hẳn chẳng chú ý gì đến những giấc mơ. Để tiếp tục công việc, hắn đợi đến khi trăng tròn. Rồi, vào buổi chiều, hắn thanh tẩy bản thân trong dòng nước sông, tôn thờ các vị thần hành tinh, đọc những âm tiết được phép gọi lên của một cái tên quyền năng, và đi ngủ. Gần như ngay lập tức, hắn mơ thấy một trái tim đang đập.
Hắn mơ thấy trái tim đang hoạt động, ấm nóng, bí ẩn, to bằng nắm tay khép lại, màu đỏ hồng lựu trong bóng tối lờ mờ của một cơ thể người vẫn chưa có khuôn mặt hay giới tính; bằng tình yêu tỉ mỉ, hắn mơ thấy nó suốt mười bốn đêm tỉnh táo. Mỗi đêm, hắn cảm nhận nó càng rõ ràng hơn. Hắn không chạm vào nó: chỉ chứng kiến, quan sát, có lẽ điều chỉnh nó bằng ánh mắt mình. Hắn cảm nhận nó, trải nghiệm nó, từ nhiều khoảng cách và nhiều góc độ. Vào đêm thứ mười bốn, hắn chạm vào động mạch phổi bằng ngón trỏ và sau đó là toàn bộ trái tim, từ bên ngoài lẫn bên trong. Cuộc kiểm tra này làm hắn hài lòng. Hắn cố tình không mơ suốt một đêm: rồi hắn quay trở lại với trái tim, cầu gọi tên một hành tinh, và bắt đầu hình dung về một trong những cơ quan chính khác. Chưa đầy một năm trôi qua, hắn đã hình dung được bộ xương đến mí mắt. Vô số sợi lông có lẽ là nhiệm vụ khó khăn nhất. Hắn mộng ra một nam nhân hoàn chỉnh, một chàng trai trẻ, nhưng chàng trai này không ngồi dậy, không nói chuyện, cũng không thể mở mắt. Đêm này qua đêm khác, người đàn ông mơ thấy chàng trai đang ngủ.
Trong các thuyết vũ trụ học ngộ đạo, các vị thần tạo hóa nặn ra một Adam đỏ không thể đứng vững ; Adam trong giấc mơ mà pháp sư tạo ra qua các đêm cũng vụng về, thô thiển và nguyên thủy như Adam bằng bụi đất kia. Một buổi chiều nọ, người đàn ông suýt nữa phá hủy toàn bộ tác phẩm của mình, nhưng rồi đổi ý. (Nhẽ ra phá hủy đi thì tốt hơn.) Sau khi thốt ra hết các lời khấn nguyện với các vị thần linh của đất và sông, hắn ta phủ phục dưới chân bức tượng có lẽ là con hổ hoặc con ngựa non, cầu xin sự giúp đỡ vô danh của nó. Hoàng hôn hôm ấy, hắn ta mơ thấy bức tượng. Hắn mơ nó sống động, run rẩy: nó không phải là giống lai gớm ghiếc giữa hổ và ngựa non, mà đồng thời là cả hai sinh vật oai hùng ấy, và cũng là một con bò đực, một bông hồng, một cơn bão. Vị thần đa diện này tiết lộ với người đàn ông danh hiệu trên trần gian của ngài là Lửa, rằng trong ngôi đền hình tròn này (và những ngôi đền khác tương tự) người ta đã dâng cho ngài những lễ vật và sự sùng bái, và rằng ngài sẽ dùng phép thuật làm cho hư ảnh trong giấc mơ sống dậy, để tất cả các sinh vật, ngoại trừ chính Lửa và người mơ, sẽ tin rằng đó là một con người bằng xương bằng thịt. Ngài ra lệnh rằng một khi được dạy dỗ lễ nghi, kẻ đó sẽ được cử đến ngôi đền đổ nát khác, nơi vẫn còn các kim tự tháp đứng sừng sững ở hạ lưu, để một giọng nói nào đó có thể ngợi ca ngài trong tòa nhà hoang vắng ấy. Trong giấc mơ của người đàn ông đang mơ, kẻ được mơ đã thức tỉnh.
Pháp sư thi hành những mệnh lệnh đó. Hắn dành một khoảng thời gian (cuối cùng kéo dài hai năm) để tiết lộ cho chàng trai những bí mật của vũ trụ và tín ngưỡng thờ lửa. Sâu thẳm trong lòng, hắn đau lòng khi phải xa cách chàng trai. Với lý do cần phải dạy dỗ, hắn kéo dài thời gian mỗi ngày dành cho giấc mơ. Hắn cũng làm lại bờ vai bên phải, có lẽ còn khiếm khuyết. Đôi khi, hắn cảm thấy phiền muộn vì tất cả những điều này đã từng xảy ra rồi… Nhìn chung, những ngày của hắn đều hạnh phúc; khi nhắm mắt lại, hắn thường nghĩ: Giờ đây ta sẽ được ở bên con trai ta. Hoặc, thi thoảng hơn: Đứa con trai ta đã ấp ủ đang chờ đợi ta và sẽ không tồn tại nếu ta không đến với nó.
Dần dần, hắn cho chàng trai làm quen với thực tại. Có lần, hắn ra lệnh cho chàng trai cắm cờ trên một đỉnh núi xa xôi. Ngày hôm sau, lá cờ tung bay phấp phới trên đỉnh núi. Hắn thử nghiệm những điều tương tự, mỗi lần sau táo bạo hơn lần trước. Với niềm chua xót trong lòng, hắn hiểu rằng đứa con trai của mình đã sẵn sàng chào đời—và có lẽ nó cũng đang nóng lòng lắm. Đêm ấy, hắn hôn đứa con trai lần đầu tiên, rồi gửi nó đến ngôi đền bên kia, nơi có tàn tích trắng xóa nằm phía hạ lưu, cách đó nhiều dặm xuyên qua rừng rậm và đầm lầy bất khả xâm phạm. Trước đó (để chàng trai chẳng bao giờ biết mình là một hư ảnh, để chàng tin rằng mình là một con người như bao kẻ khác), hắn đã gieo vào chàng sự quên lãng hoàn toàn những năm tháng học việc.
Chiến thắng và sự bình yên của hắn ta nhuốm màu mệt mỏi. Trong những buổi chiều tà và bình minh, hắn ta phủ phục trước bức tượng đá, có lẽ mường tượng rằng người con trai hư ảo của mình cũng đang thực hiện những nghi lễ giống hệt, nơi những phế tích hình tròn khác ở hạ lưu; ban đêm hắn ta không mơ nữa, hoặc chỉ mơ như bao người bình thường khác. Hắn ta lờ mờ cảm nhận âm thanh và hình dạng của vũ trụ: người con trai xa cách ấy đang được nuôi dưỡng bằng chính những phần linh hồn suy giảm của hắn. Mục đích cuộc đời hắn ta đã được toại nguyện; người đàn ông vẫn tiếp tục trong trạng thái xuất thần. Sau một khoảng thời gian mà một số người kể câu chuyện về hắn ta thích tính bằng năm, hoặc có người tính bằng chu kỳ năm năm, hắn ta bị đánh thức lúc nửa đêm bởi hai người chèo thuyền: hắn chẳng thể nhìn thấy khuôn mặt họ, nhưng họ kể cho hắn nghe về một người đàn ông có phép trong một ngôi đền ở phương Bắc, có khả năng bước trên lửa mà không bị thiêu cháy. Vị pháp sư chợt nhớ lại lời của vị thần. Hắn nhớ ra rằng trong tất cả những tạo vật cấu thành nên thế giới, lửa là sinh vật duy nhất biết con trai hắn là một hư ảnh. Ký ức đó, ban đầu êm dịu, cuối cùng lại đâm ra giày vò hắn ta. Hắn sợ đứa con trai mình sẽ trầm tư về đặc ân dị thường ấy, và bằng cách nào đó khám phá ra thân phậm mình chỉ là một cái bóng hư ảo. Không phải là một con người, mà chỉ là hình chiếu từ giấc mơ của kẻ khác—thật là sự sỉ nhục vô song, ôi thật choáng váng xiết bao! Mọi người cha đều lo lắng cho những đứa con mình sinh ra (hoặc tạo ra) trong một khoảnh khắc bối rối hay hạnh phúc đơn sơ; thật dễ hiểu khi người pháp sư lo sợ cho tương lai của đứa con trai ấy, đứa con được thai nghén bằng từng khúc ruột, từng nét mặt, trong hàng ngàn đêm thầm kín.
Sự suy tư của hắn kết thúc đột ngột, nhưng đã có vài dấu hiệu báo trước. Trước hết (sau một trận hạn hán kéo dài) là một đám mây xa xăm trên ngọn đồi, nhẹ tựa cánh chim; tiếp đó, về phía nam, bầu trời có màu hồng nhạt như nướu của loài báo; rồi đến làn khói làm rỉ sét kim loại của màn đêm, sau cùng đến cuộc chạy trốn hoảng loạn của muông thú. Bởi vì những chuyện xảy ra từ nhiều thế kỷ trước lại tái diễn. Những tàn tích của đền thờ thần lửa đã bị chính lửa thiêu rụi. Vào một buổi bình minh không tiếng chim hót, pháp sư nhìn thấy ngọn lửa hình tròn bao trùm lên những bức tường. Trong giây lát, hắn nghĩ đến việc tìm nơi trú ẩn dưới dòng nước, nhưng rồi hắn hiểu rằng cái chết đã đến để kết thúc tuổi già và giải thoát hắn khỏi những lao khổ. Hắn bước đi giữa những dải lửa. Lửa không cắn vào da thịt hắn; lửa vuốt ve và bao trùm lấy hắn mà chẳng hề có hơi nóng, chẳng có sự cháy. Với cảm giác nhẹ nhõm, với nỗi nhục nhã, với nỗi kinh hoàng, hắn hiểu rằng chính mình cũng chỉ là một hư ảnh, rằng có ai đó từng mơ ra hắn ta
– HẾT-
—Góc suy ngẫm:
Kiệt tác “Những phế tích hình tròn” của Jorge Luis Borges là một cấu trúc toán học tinh vi được ngụy trang dưới lớp áo của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, nơi tác giả sử dụng khái niệm đệ quy để giải phẫu bản chất của sự sáng tạo và tri thức luận. Bằng việc xây dựng hành trình của một thuật sĩ cô độc nỗ lực “nằm mơ” ra một tạo vật bằng xương bằng thịt, Borges đã khéo léo lồng ghép nghịch lý về tính hữu hạn của con người trước sự vô hạn của tư duy logic. Không gian tàn tích cổ xưa bị thiêu rụi không đơn thuần là bối cảnh ma mị, mà nó đại diện cho tính tuần hoàn của thời gian, một vòng lặp vĩnh cửu nơi mọi điểm khởi đầu cũng chính là điểm kết thúc.
Sự chặt chẽ của cốt truyện nằm ở chỗ quá trình kiến tạo ý thức cho đứa con trong mơ được mô tả như một chuỗi các bước lập trình trí tuệ đầy tính toán, từ việc sàng lọc các nhân ảnh trong lớp học tâm thức cho đến việc hoàn thiện từng cơ quan nội tạng từ hư vô. Đỉnh cao triết học của tác phẩm phát lộ ở đoạn kết, khi ngọn lửa không thể làm tổn hại đứa con và chính vị thuật sĩ cũng bước vào lửa mà không hề bị thiêu rụi. Khoảnh khắc ông nhận ra mình cũng chỉ là ảo ảnh đang được mơ bởi một kẻ khác đã hoàn thiện cấu trúc logic hình tròn hoàn hảo của tác phẩm, biến câu chuyện thành một lời cảnh báo lạnh lùng và sâu sắc về sự kiêu ngạo của cái tôi sáng tạo, đồng thời xóa nhòa hoàn toàn ranh giới giữa đấng sáng tạo và tạo vật trong một mê cung hiện sinh không có lối thoát.
Bấm vào link shopee ủng hộ mình nha :-3